để lại đi sản, tuy nhiên, “tự do” đó phải phù hợp với quy định của pháp luật, phù hợp với nguyên tắc “tôn trọng truyền thống tốt đẹp” (xem Điều 8, Bộ luật Dân sự 2005). Với _ nguyên lý trên, quyền định đoạt của người lập di chúc sẽ bị hạn chế trong các trường hợp sau đây: 3. Người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc Pháp luật về thừa kế bao giờ cũng được đặt trên hai phương diện: phương diện kinh tế và phương diện dao đức. Dựa trên phương diện kinh tế, pháp luật về thừa kế hoàn toàn phụ thuộc vào pháp luật về sở hữu.
Quyền sở hữu về tài sản của một người không chỉ là những quyền năng của người đó lúc còn sông đối với tài sản, mà còn là quyền chuyển dich sự sở hữu về tai san của một người từ đời này đến đời khác. Với tính chất ấy, pháp luật thừa kế là một yếu tố để dam bao tuyệt đối quyền sở hữu đổi với tài sản của một người nhất định. Theo phương diện này, pháp luật về thừa kế được xác định trên căn bản cá nhân. Một người là chủ sở hữu đối với tài sản của mình thì người đó có toàn quyền định đoạt di sản theo ý muốn của mình mà không phải chịu sự hạn chế nào của pháp luật.
Trái lại, nếu dựa trên phương diện đạo đức thì pháp luật về thừa kế là một phương tiện pháp lý để dịch chuyển của cải từ người chết sang những người còn sống khác qua đó để người quá cố làm tròn bổn phận của mình đối với gia đình họ. Bổn phận của mỗi người đối với mỗi thành viên khác trong gia đình không chỉ trong hiện tại mà còn phải hướng về tương lai, nghĩa là mỗi người đều phải có bổn phận với nhau cả sau khi đã chết. Người ta không chỉ phải nuôi dưỡng bố, mẹ, con cái lúc còn sống mà còn có bổn phận phải tạo dựng cho họ những 207 điều kiện để đời sống của họ được dễ dàng. Nghĩa là phải để lại của cải cho họ sau khi chết.
Theo góc độ này thì gia đình có thể được coi là một chuỗi thế hệ kế tiếp nhau, mà thê hệ sau ngay khi ra đời đã được thừa hưởng của cải do thế hệ trước để lại. Dựa trên căn bản đạo đức, pháp luật thừa kê quy định rằng việc chuyển dịch tài sản của một người cho những người khác trong gia đình là bổn phận bắt buộc đối với người để lại di sản. Vì vậy, người đó chỉ có thể định đoạt di sản bằng di chúc trong phạm vì pháp luật cho phép mà thôi. Nhưng phạm vi đó như thế nào? Ai là người mà người chết bắt buộc phải để lại di san cho ho? Sự dịch chuyển di san từ người chết sang những người này được thực hiện ra sao? Tuy thuộc vào tục lệ của từng thời đại, tuỳ thuộc vào chế độ kinh tế của từng xã hội mà những vấn đề trên sẽ được pháp luật quy định cụ thể.
Ỏ Việt Nam, diện những người thừa kế theo khuôn mẫu gia đình xưa có một phạm vi rộng rãi, bao gồm tất cả những người thân thuộc dù gần hay xa của người chết. Ngày nay, phạm vi đó được thu hẹp lại rất nhiều, nếu về huyết thống chỉ bao gồm những người có quan hệ trực hệ trong phạm vi bốn đời và những người có quan hệ ngành ngang (bàng hệ) trong phạm vi ba đời đối với người chết. Đặc biệt, trong diện đã được thu hẹp đó thì chỉ một số người tối thiểu có quan hệ hết sức thân thuộc gần gũi với người đã chết mới được hưởng di sản mà người chết thực hiện bốn phận bắt buộc nói trên. Bổn phận, từ một góc độ đạo đức đã được pháp luật nâng lên thành nghĩa vụ pháp lý.
Đó chính là nghĩa vụ nuôi dưỡng lẫn nhau giữa các thành viên trong một gia đình. Sự nuôi dưỡng đó được người có nghĩa vụ trực tiếp thực hiện khi còn sống, đồng thời khi đã chết, nghĩa vụ đó được thể hiện thống qua việc để lại đi sản, vì vậy, Điều 672 Bộ luật Dân sự 1995 208 được quy định lại tại Điều 669. Bộ luật Dân sự 2005 của nước ta đã quy định: “Những người sau đây vẫn được hưởng một phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật, nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó, trừ khi họ là những người từ chối nhận di sản theo quy định tại Điều 642 hoặc họ là những người không có quyền hưởng di sản theo quy định tại Khoản 1 Điều 643 của Bộ luật này: 1. Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng; 2.
Con đã thành niên mà không có khả năng lao động”. Nội dung của điều luật trên thể hiện: một mặt, pháp luật tôn trọng ý chí của người để lại di sản (phương diện kinh tế) nhưng mặt khác, chính pháp luật lại hạn chế quyền định đoạt ấy nếu người để lại di sản còn có những người mà khi họ còn sống họ có nghĩa vụ nuôi dưỡng, chăm sóc. Hay nói một cách khác, điều luật trên quy định một số người thừa kế luôn có quyền hưởng một phần di sản nhất định mà không phụ thuộc vào việc người lập di chúc có cho họ hưởng hay không. Vì thế, có thể nói rằng sự quy định trên của pháp luật là sự dung hoà giữa phương diện kinh tế và phương diện đạo đức.
Nghia là sự chuyển dịch tài sản dù là hệ luận của quyền sở hữu đi nữa thì pháp luật vẫn can thiệp đến sự định đoạt của người lập di chúc để hạn chế quyển định đoạt của họ nhằm bảo vệ quyền lợi chính đáng, thiết thực cua những người có quan hệ thích thuộc vối người đó. Trái lại, nếu sự chuyển dịch di sản được coi là bổn phận của người đã chết đối với gia đình họ thì pháp luật vẫn cho phép người đó được tự do một phần nào trong việc định đoạt tài sản, miễn là phải làm tròn bổn phận tối thiểu đối với gia đình. 14-TKế QDCPL 209 Ví dụ: Tại thời điểm mở thừa kế, ông M có ba người thừa kế theo luật còn sống là cụ H (bố của ông M), bà K (vợ ông M) và một người con là N. Trước khi ông M chết có lập di chúc, trong đó ông định đoạt toàn bộ khối di sản của mình trị giá là 180 triệu đồng cho vợ và con của mình cùng hưởng.
Pháp luật vẫn tôn trọng ý chí của ông M, trong việc lập di chúc để định đoạt tài sản, tuy nhiên ông M phải có bốn phận tối thiểu đối với người bố của mình là cụ H. Nên ông M không được quyền định đoạt hết tài sẵn cho người khác. Vì vậy, vụ án trên phải được giải quyết như sau: Xác định một suất thừa kế theo luật là: 180 triệu đồng : 3 = 60 triệu đồng. Cụ H được hưởng hai phần ba của một suất, thừa kế theo luật là: 60 triệu đồng x 2/3 = 40 triệu đồng.
Bà K và người con N cùng hưởng phần di sản còn lại là: 180 triệu đồng - 40 triệu đồng = 140 triệu đồng. Phải nói rằng, nếu so sánh hai phương diện nói trên của pháp luật thừa kế thì phương diện đạo đức có thể quan trọng hơn ca. Bởi lẽ, nếu từ vấn dé đạo đức, pháp luật công nhận rằng người để lại di sản có bổn phận đối với gia đình tức là đã gián tiếp làm cho quyền sở hữu có một phần tác dụng kinh tế và khi đó quyền sở hữu của những người thừa kế đối với những đi sản được hưởng lại là hệ quả của pháp luật thừa kế. Mặt khác, pháp luật thừa kế dựa trên quy tắc đạo đức thường có một giá trị chắc chắn hơn là dựa trên một hình thức sở hữu thường bị thay đổi.
Chẳng hạn, người ta vẫn còn bàn cãi nhiều về quyền sở hữu tư nhân nhưng về mặt đạo đức khó có thể tranh cãi về bổn phận của cha, mẹ phải bảo đảm đời sống cho các con của họ. Trước đây, khi quy định về những người được hưởng di sản không phụ thuộc vào nội dung của di chúc, do sắp xếp ngôn từ không hợp lý, Điều 20 của Pháp lệnh Thừa kế đã làm xuất hiện nhiều cách hiểu khác nhau về cùng một điều luật 210 và gây ra sự tranh cãi giữa các quan điểm về việc hiểu diều kiện “không đủ khả năng lao động và túng thiếu” là chỉ đối với con đã thành niên hay đổi với ca bố, mẹ, vợ, chồng. Xếp lại danh mục những người được hưởng di sản một cách khoa học, Điều 669 Bộ luật Dãn sự 2005 đã tránh được thực tế trên đây là một sự tiến bộ, thành công của các nhà lập pháp. Theo quy định của điều luật nói trên thì bất luận trong mọi trường hợp bố, mẹ, vợ, chồng của người chết.
đều hưởng một phần di sản ít nhất là bằng hai phần ba của một suất thừa kế theo luật. Nếu so sánh các bộ cổ luật đã từng tổn tại trong lịch sử pháp luật của Việt Nam, chúng ta thấy rằng: thời nhà Lê, Bộ Quốc triều hình luật có quy định về tội bất hiếu nhưng phần dân sự không hể có quy định con phải để lại cho bố, mẹ phần di sản theo bổn phận tối thiểu. Trong Bộ Dân luật Bac và Bộ dân luật Trung cũng không hề có quy định này. Đặc biệt với nguyên tắc: di sản phải được chuyển dịch xuống hàng ty thuộc của người chết, khi không còn ai ở hàng ty thuộc di sản mới được dịch lên cho hàng tôn thuộc, nên trong ca ba bộ luật nói trên đều quy định “Khi bố, mẹ chết, con đứng ở hàng thừa kế thứ nhất để hưởng di sản nhưng bố, mẹ chỉ đứng ở hàng thừa kế thứ hai để hưởng di sản khi con chết” Trong thực tế rất ít trường hợp một người ông (bố của người chết) đứng ra tranh chấp với cháu nội, cháu ngoại của minh trong việc hưởng di san của người đã chết (mặc dù việc cha, mẹ luôn được hưởng một kỷ phần bắt buộc đối với di sản do con để lại đã được pháp luật của Nhà nước ta quy định từ những năm đầu của thập niên 1980 bằng Thông tư 81-TATC của Toà án nhân dân tối cao, đồng thời được quy định lại trong Điều 25 của Pháp lệnh Thừa kế ngày 30 tháng 8 năm 1990).