Luận văn thạc sĩ dược học thử nghiệm can thiệp của dược sỹ lâm sàng vào việc sử dụng vancomycin nhằm đảm bảo hiệu quả và an toàn trong điều trị tại bệnh viện bạch mai

Luận văn thạc sĩ dược học nghiên cứu can thiệp dược sỹ lâm sàng nhằm tối ưu hiệu quả và an toàn sử dụng vancomycin tại Bệnh viện Bạch Mai.

Chuyên ngành

Dược lâm sàng

Tác giả

Lê Vân Anh

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án

2015

142
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ÐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. ĐẶT VẤN ĐỀ

2. TỔNG QUAN VỀ VANCOMYCIN

2.1. Cấu trúc hoá học

2.2. Đặc tính dược động học

2.3. Mô hình dược động học

3. MỐI LIÊN QUAN GIỮA DƯỢC ĐỘNG HỌC VÀ DƯỢC LỰC HỌC (PK/PD) CỦA VANCOMYCIN

3.1. Chỉ số PK/PD của vancomycin

3.2. Khả năng đạt chỉ số PK/PD mục tiêu với các chế độ liều tại MIC xác định và theo phân bố MIC

3.3. Ứng dụng chỉ số PK/PD trong giám sát điều trị vancomycin

3.4. Nghiên cứu tại Việt Nam về giám sát nồng độ vancomycin

4. VAI TRÒ CỦA HOẠT ĐỘNG DƯỢC LÂM SÀNG TRONG VIỆC ĐẢM BẢO SỬ DỤNG VANCOMYCIN HỢP LÝ – AN TOÀN

4.1. Nhiệm vụ của dược sỹ lâm sàng

4.2. Sự cần thiết cần phải có các can thiệp dược lâm sàng liên quan đến việc sử dụng vancomycin

4.3. Lĩnh vực dược lâm sàng đã can thiệp

4.4. Hiệu quả của can thiệp

4.5. Hạn chế của can thiệp

5. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

5.1. GIỚI THIỆU NGHIÊN CỨU

5.2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

5.2.1. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu để giải quyết mục tiêu 1

5.2.2. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu để giải quyết mục tiêu 2

5.3. PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ SỐ LIỆU

6. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

6.1. KHẢO SÁT THỰC TRẠNG SỬ DỤNG VANCOMYCIN TẠI BỆNH VIỆN BẠCH MAI

6.1.1. Kết quả khảo sát tình hình sử dụng vancomycin

6.1.2. Khảo sát giá trị MIC vancomycin với tụ cầu vàng tại Bệnh viện Bạch Mai

6.1.3. Khảo sát nồng độ đáy và đánh giá khả năng đạt chỉ số AUC0-24/MIC của vancomycin trên bệnh nhân nhiễm tụ cầu vàng tại Bệnh viện Bạch Mai

6.2. CAN THIỆP CỦA DƯỢC SỸ LÂM SÀNG VÀO VIỆC SỬ DỤNG VANCOMYCIN TẠI BỆNH VIỆN BẠCH MAI

6.2.1. Xây dựng hướng dẫn sử dụng vancomycin tại Bệnh viện Bạch Mai

6.2.2. Thử nghiệm can thiệp của dược sỹ lâm sàng vào việc sử dụng vancomycin theo qui trình đã được phê duyệt

6.3. VỀ THỰC TRẠNG SỬ DỤNG VANCOMYCIN, GIÁ TRỊ NỒNG ĐỘ ĐÁY, KHẢ NĂNG ĐẠT AUC/MIC MỤC TIÊU TRƯỚC KHI BAN HÀNH HƯỚNG DẪN SỬ DỤNG VANCOMYCIN

6.3.1. Đối tượng sử dụng vancomycin và chỉ định vancomycin trong điều trị các bệnh nhiễm khuẩn

6.3.2. Về chế độ liều vancomycin

6.3.3. Về độ nhạy cảm của vi khuẩn với vancomycin và phân bố giá trị MIC của vancomycin với tụ cầu vàng

6.3.4. Về khả năng đạt chỉ số AUC0-24/MIC mục tiêu và giá trị nồng độ đáy của vancomycin trên bệnh nhân nhiễm tụ cầu vàng tại Bệnh viện Bạch Mai

6.3.5. Về cách sử dụng, tác dụng không mong muốn của vancomycin và giám sát chức năng thận

6.4. VỀ KẾT QUẢ XÂY DỰNG HƯỚNG DẪN SỬ DỤNG VANCOMYCIN VÀ QUI TRÌNH GIÁM SÁT NỒNG ĐỘ VANCOMYCIN TRONG MÁU

6.4.1. Chỉ định vancomycin trong điều trị nhiễm khuẩn

6.4.2. Về xây dựng đích nồng độ

6.4.3. Lựa chọn chế độ liều

6.4.4. Xây dựng cách sử dụng vancomycin

6.4.5. Xây dựng qui trình giám sát nồng độ vancomycin trong máu

6.5. VỀ KẾT QUẢ CAN THIỆP CỦA DƯỢC SỸ LÂM SÀNG VÀ TÌNH HÌNH SỬ DỤNG VANCOMYCIN KHI CÓ CAN THIỆP THEO HƯỚNG DẪN SỬ DỤNG ĐƯỢC PHÊ DUYỆT

6.5.1. Mục đích can thiệp

6.5.2. Kết quả can thiệp

6.6. VỀ KẾT QUẢ SỬ DỤNG VANCOMYCIN PHÙ HỢP TRƯỚC VÀ KHI CÓ CAN THIỆP DƯỢC SỸ LÂM SÀNG

6.6.1. Đặc điểm chung bệnh nhân trước và khi can thiệp

6.6.2. Liều dùng vancomycin ban đầu phù hợp trước và khi có can thiệp dược sỹ lâm sàng

6.6.3. Cách dùng vancomycin phù hợp trước và khi có can thiệp dược sỹ lâm sàng

6.6.4. Nồng độ đáy vancomycin phù hợp trước và khi có can thiệp dược sỹ lâm sàng

6.7. MỘT SỐ HẠN CHẾ CỦA NGHIÊN CỨU

6.7.1. Một số hạn chế của nghiên cứu khảo sát việc sử dụng vancomycin trước khi ban hành hướng dẫn sử dụng

6.7.2. Hạn chế của nghiên cứu can thiệp

CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

DANH MỤC KÍ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC HÌNH VẼ, SƠ ĐỒ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Thử nghiệm can thiệp dược sỹ lâm sàng

Thử nghiệm can thiệp dược sỹ lâm sàng là một phần quan trọng trong nghiên cứu này, nhằm đánh giá hiệu quả của việc áp dụng các biện pháp can thiệp trong sử dụng vancomycin tại Bệnh viện Bạch Mai. Nghiên cứu tập trung vào việc xây dựng và thực hiện các quy trình can thiệp, bao gồm hướng dẫn sử dụng vancomycin, giám sát nồng độ thuốc trong máu, và hiệu chỉnh liều dựa trên đặc điểm bệnh nhân. Kết quả cho thấy, can thiệp dược lâm sàng đã cải thiện đáng kể tỷ lệ sử dụng vancomycin phù hợp, đảm bảo hiệu quả điều trị và giảm thiểu tác dụng không mong muốn.

1.1. Xây dựng hướng dẫn sử dụng vancomycin

Quá trình xây dựng hướng dẫn sử dụng vancomycin được thực hiện dựa trên các tiêu chuẩn quốc tế và thực tiễn lâm sàng tại Bệnh viện Bạch Mai. Hướng dẫn này bao gồm các chỉ định cụ thể, chế độ liều, và quy trình giám sát nồng độ thuốc. Việc áp dụng hướng dẫn đã giúp tối ưu hóa điều trị bằng vancomycin, đảm bảo nồng độ đáy đạt mục tiêu điều trị và giảm nguy cơ độc tính trên thận.

1.2. Thực hiện can thiệp dược lâm sàng

Các dược sỹ lâm sàng đã tham gia tích cực vào quá trình can thiệp, bao gồm đánh giá liều dùng, hiệu chỉnh liều dựa trên chức năng thận, và giám sát nồng độ vancomycin trong máu. Kết quả cho thấy, tỷ lệ bệnh nhân đạt nồng độ đáy mục tiêu tăng lên đáng kể, đồng thời giảm thiểu các tác dụng không mong muốn liên quan đến thuốc.

II. Sử dụng vancomycin tại Bệnh viện Bạch Mai

Nghiên cứu đã khảo sát thực trạng sử dụng vancomycin tại Bệnh viện Bạch Mai, tập trung vào các chỉ định, chế độ liều, và hiệu quả điều trị. Kết quả cho thấy, vancomycin được sử dụng rộng rãi trong điều trị các bệnh nhiễm khuẩn do vi khuẩn Gram (+) kháng kháng sinh, đặc biệt là tụ cầu vàng kháng methicillin (MRSA). Tuy nhiên, việc sử dụng chưa tối ưu, với tỷ lệ bệnh nhân đạt nồng độ đáy mục tiêu thấp và nguy cơ độc tính trên thận cao.

2.1. Chỉ định và chế độ liều

Vancomycin được chỉ định chủ yếu trong điều trị các bệnh nhiễm khuẩn nặng do MRSA và các vi khuẩn Gram (+) kháng kháng sinh khác. Tuy nhiên, chế độ liều thường không được hiệu chỉnh dựa trên chức năng thận của bệnh nhân, dẫn đến nguy cơ tích lũy thuốc và độc tính trên thận.

2.2. Giám sát nồng độ vancomycin

Giám sát nồng độ vancomycin trong máu là một phần quan trọng trong quản lý điều trị. Tuy nhiên, trước khi có can thiệp dược lâm sàng, tỷ lệ bệnh nhân được giám sát nồng độ đáy còn thấp, dẫn đến nguy cơ điều trị không hiệu quả và tăng nguy cơ độc tính.

III. Hiệu quả và an toàn của can thiệp dược lâm sàng

Nghiên cứu đã đánh giá hiệu quả và an toàn của can thiệp dược lâm sàng trong sử dụng vancomycin. Kết quả cho thấy, can thiệp đã cải thiện đáng kể tỷ lệ bệnh nhân đạt nồng độ đáy mục tiêu, đồng thời giảm thiểu các tác dụng không mong muốn liên quan đến thuốc. Điều này khẳng định vai trò quan trọng của dược sỹ lâm sàng trong quản lý sử dụng kháng sinh tại bệnh viện.

3.1. Hiệu quả điều trị

Sau khi áp dụng can thiệp dược lâm sàng, tỷ lệ bệnh nhân đạt nồng độ đáy mục tiêu tăng lên đáng kể, đảm bảo hiệu quả điều trị và giảm nguy cơ thất bại điều trị. Điều này đặc biệt quan trọng trong điều trị các bệnh nhiễm khuẩn nặng do MRSA.

3.2. An toàn thuốc

Can thiệp cũng giúp giảm thiểu các tác dụng không mong muốn liên quan đến vancomycin, đặc biệt là độc tính trên thận. Việc hiệu chỉnh liều dựa trên chức năng thận và giám sát nồng độ thuốc đã góp phần quan trọng trong việc đảm bảo an toàn cho bệnh nhân.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

01/03/2025
Luận văn thạc sĩ dược học thử nghiệm can thiệp của dược sỹ lâm sàng vào việc sử dụng vancomycin nhằm đảm bảo hiệu quả và an toàn trong điều trị tại bệnh viện bạch mai

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Vancomycin, một kháng sinh nhóm glycopeptid đã được dùng điều trị nhiễm khuẩn nặng gây ra bởi vi khuẩn Gr (+) kháng kháng sinh nhóm β – lactam. Hiện nay, vancomycin là thuốc lựa được lựa chọn hàng đầu cho các bệnh nhiễm khuẩn do tụ cầu vàng kháng methicillin (MRSA) và cầu khuẩn ruột kháng ampicillin. Tuy nhiên, ngay từ khi mới được đưa vào sử dụng, độc tính trên thính giác và thận của vancomycin là một vấn đề được quan tâm hàng đầu [76]. Những năm qua, sử dụng vancomycin ngày càng phổ biến với sự gia tăng nhiễm trùng bệnh viện do vi khuẩn Gram (+) kháng β-lactam.

Việc sử dụng vancomycin rộng rãi là một trong những nguyên nhân dẫn đến phát triển các chủng vi khuẩn kháng thuốc. Ở các nước Châu Âu, cầu khuẩn ruột đề kháng vancomycin được ghi nhận với tỉ lệ khác nhau, dao động từ <1% đến >30% [38]. Ở Mỹ, cầu khuẩn ruột đề kháng vancomycin lên tới 33% [14],[51]. Đối với tụ cầu vàng, sự xuất hiện các chủng tụ cầu vàng giảm nhạy cảm với vancomycin – Vancomycin Intermediate Staphylococcus aureus (VISA), tụ cầu đề kháng trung gian dị chủng với vancomycin- hetero Vancomycin Intermediate Staphylococcus aureus (hVISA) đang là thách thức lớn cho các nhà lâm sàng.

Tỉ lệ hVISA lưu hành tại Châu Á dao động trong khoảng 2,1 đến 8,2% [106]. Tụ cầu vàng đề kháng vancomycin hiện nay chưa cao, đang dừng ở mức báo cáo ca lâm sàng đơn lẻ [25]. Tuy nhiên, thất bại trong điều trị có xu hướng gia tăng trên những bệnh nhân có MIC vancomycin với vi khuẩn gây bệnh cao [107]. Như vậy, câu hỏi đặt ra cho các nhà lâm sàng là làm sao quản lý sử dụng kháng sinh này để đảm bảo hiệu quả và tính an toàn lâu dài.

Ứng dụng chỉ số PK/PD của vancomycin, trong đó giám sát nồng độ đáy đã được đồng thuận rộng rãi để tối ưu hoá hiệu quả điều trị, hạn chế phát triển các chủng vi khuẩn kháng thuốc và độc tính trên thận [75]. Trong lĩnh vực này, tại các nước trên thế giới, hoạt động của Dược sĩ lâm sàng đã góp phần quan trọng vào việc sử dụng vancomycin hợp lý, an toàn. Can thiệp của dược sỹ lâm sàng được thực hiện trên các lĩnh vực liên quan đến sử dụng vancomycin trên người bệnh từ việc lựa chọn thuốc, hiệu chỉnh liều đến giám sát nồng độ thuốc trong máu, đã làm tăng tỉ lệ sử 1 dụng thuốc phù hợp, đảm bảo nồng độ đáy đạt hiệu quả điều trị [30],[35],[43]. Ở Việt Nam hiện nay, căn cứ trên thông tư số 31/2012 TT-BYT: Hướng dẫn triển khai hoạt động dược lâm sàng tại bệnh viện, hoạt động của dược sỹ lâm sàng đã được triển khai tại một số cơ sở khám, chữa bệnh [2].

Tại bệnh viện Bạch mai, hoạt động dược lâm sàng đã được triển khai tại một số khoa và bước đầu đã ghi nhận được những kết quả khả quan. Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu “Thử nghiệm can thiệp của dược sỹ lâm sàng vào việc sử dụng vancomycin nhằm đảm bảo hiệu quả và an toàn trong điều trị tại Bệnh viện Bạch Mai” với các mục tiêu sau: 1. Khảo sát thực trạng sử dụng vancomycin tại bệnh viện Bạch Mai. Thử nghiệm can thiệp của dược sỹ lâm sàng vào việc sử dụng vancomycin tại một số khoa lâm sàng.

Từ đó, đề xuất những biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả, an toàn trong việc sử dụng vancomycin tại Bệnh viện Bạch Mai.TỔNG QUAN VỀ VANCOMYCIN 1.Cấu trúc hoá học Hình 1. Cấu trúc hóa học của vancomycin [19] Vancomycin là một glycopeptid ba vòng có phân tử lượng khoảng 1500 dalton, bao gồm một chuỗi 7 liên kết peptid. Nhờ cấu trúc hóa học có nhiều liên kết peptid nên vancomycin là một kháng sinh thân nước, được phân bố rộng rãi vào khắp các mô và dịch ngoại bào trong cơ thể [19]. Đặc tính dƣợc động học 1.Hấp thu Vancomycin hấp thu ít qua đường tiêu hóa (sinh khả dụng đường uống < 5%), tiêm bắp gây đau và hấp thu không ổn định.

Do vậy, thuốc thường được truyền tĩnh mạch trong điều trị các trường hợp nhiễm khuẩn toàn thân [19],[88].Phân bố Vancomycin có tỷ lệ liên kết với protein huyết tương thấp, từ 10-50% tùy theo từng đối tượng [88]. Vancomycin liên kết chủ yếu với albumin và IgA. Tỉ lệ gắn protein tăng khi nồng độ IgA tăng. Do vậy, cần cân nhắc việc sử dụng vancomycin trên các bệnh nhân có bệnh tăng IgA máu như bệnh đa u tuỷ xương thể IgA [111].

3 Phân bố trong dịch cơ thể: nồng độ điều trị của vancomycin đạt được trong hoạt dịch dịch cổ trướng, màng ngoài tim và màng phổi, trên bệnh nhân có chức năng thận bình thường, trong dịch thẩm tách màng bụng sau khi truyền đơn liều hoặc đa liều [76]. Phân bố vào mô: + Màng não: khi màng não không bị viêm, khả năng thấm của vancomycin qua hàng rào máu não thấp. Khi màng não bị viêm, khả năng thấm của vancomycin được cải thiện với nồng độ dao động từ 6 - 11μg/mL [98], nồng độ điều trị của vancomycin có thể đạt được trong dịch não tuỷ thậm chí cả khi phối hợp với thuốc chống viêm nhóm steroid [55]. + Phổi: nồng độ vancomycin trong dịch lót phế nang bằng khoảng 50% nồng độ trong huyết tương [68].

+Tim: nồng độ điều trị của vancomycin đạt được trong các mô tim (van tim, cơ tim, tâm nhĩ, màng ngoài tim) với tỉ số nồng độ trong mô/MIC90 (MIC90 của S.aureus là 1μg/mL) dao động trong khoảng 6-20 [74]. Chuyển hoá và thải trừ Vancomycin hầu như không bị chuyển hóa trong cơ thể mà thải trừ dưới dạng còn hoạt tính. Vancomycin được thải trừ gần như hoàn toàn qua thận ở dạng không chuyển hóa nhờ quá trình lọc ở cầu thận. Với người lớn có chức năng thận bình thường, khoảng 80-90% liều dùng được thải trừ qua nước tiểu trong vòng 24h.

Phần còn lại được thải trừ qua gan và mật. Do vancomycin được thải trừ gần như hoàn toàn qua thận, nên việc hiệu chỉnh liều trên những đối tượng suy giảm chức năng thận là rất cần thiết [88]. Mô hình dược động học Hình 1. Mô hình dược động học của vancomycin [15] Sau khi truyền tĩnh mạch 1 giờ, nồng độ vancomycin huyết thanh có thể được mô tả theo mô hình dược động học 2 hoặc 3 ngăn.

Với những bệnh nhân có nồng độ vancomycin huyết thanh theo mô hình 2 ngăn, thuốc được phân bố theo 2 pha [15]: - Pha alpha được gọi là pha phân bố: nồng độ thuốc trong huyết thanh giảm nhanh do thuốc phân bố từ máu đến các mô trong cơ thể. Pha kéo dài từ 30-60 phút sau khi truyền. - Pha beta được gọi là pha thải trừ với thời gian bán thải từ 6-12 giờ. Ở pha này, nồng độ thuốc trong máu và các mô đã đạt trạng thái cân bằng.

Quá trình này thay đổi rất nhiều, phụ thuộc vào chức năng thận của bệnh nhân. Với những bệnh nhân có nồng độ vancomycin huyết thanh tuân theo mô hình dược động học 3 ngăn, có một pha phân bố trung gian pha alpha và pha beta, có nửa đời từ 30-60 phút [15]. Mô hình dược động học 2 ngăn hoặc 3 ngăn rất khó áp dụng trên thực tế do tính phức tạp về toán học. Vì vậy, mô hình dược động học 1 ngăn được sử dụng rộng rãi và cho phép tính liều chính xác khi nồng độ đỉnh được đo sau khi pha phân bố kết thúc.

Một số yếu tố ảnh hưởng đến dược động học của vancomycin + Đối với trẻ sơ sinh và trẻ em: đối với trẻ sinh non (<32 tuần), lượng nước trong cơ thể lớn hơn so với người lớn. Tuy nhiên, thể tích phân bố của vancomycin không thay đổi như với kháng sinh nhóm aminoglycosid. Thận chưa phát triển hoàn chỉnh nên mức độ lọc cầu thận và thanh thải vancomycin giảm (15ml/phút). Độ thanh thải của thuốc thấp hơn với cùng thể tích phân bố giống như người lớn nên t1/2 sẽ kéo dài hơn ( t1/2 =10 giờ).

Trẻ sinh đủ tháng có thể tích phân bố giống như trẻ sinh non, tuy nhiên độ thanh thải vancomycin cao gấp đôi so với trẻ sinh non (30ml/phút). Thời gian bán thải t1/2 trên trẻ sinh đủ tháng khoảng 7 giờ. Khi trẻ được 3 tháng tuổi, thanh thải vancomycin tăng gần gấp đôi (50ml/phút) dẫn đến giảm thời gian bán thải (t1/2 khoảng 4 giờ). Thanh thải vancomycin tiếp tục tăng trong vòng từ 4 -8 tuổi.

Khi thanh thải cân bằng trong khoảng 130-160ml/phút, thể tích phân bố (Vd) duy trì ở mức khoảng 0,7L/kg và t1/2 khoảng 2-3 giờ. Đến độ tuổi 12-14 tuổi, thanh thải creatinin và thời gian bán thải dần đạt giá trị của người trưởng thành [15],[21],[88]. + Đối với người cao tuổi: (>65 tuổi) thể tích phân bố, t1/2 tăng (12,1 giờ), thanh thải vancomycin giảm đáng kể trên bệnh nhân cao tuổi so với người trẻ. Khả năng tích luỹ vancomycin trên bệnh nhân cao tuổi là vấn đề cần quan tâm do giảm thanh thải vancomycin thậm chí trên bệnh nhân có chức năng thận bình thường [21].

+ Bệnh nhân bị bỏng nặng (>30-40% diện tích cơ thể): có thể ảnh hưởng lớn đến dược động học của vancomycin. Khoảng 48 đến 72 giờ sau khi bị bỏng, chuyển hoá cơ bản tăng để tái tạo mô. Tăng chuyển hoá cơ bản sẽ làm tăng mức độ lọc của cầu thận, nên thanh thải vancomycin tăng. Do thanh thải thuốc tăng, t1/2 trung bình trên bệnh nhân bỏng giảm (t1/2 = 4 giờ) [15],[21].

+ Đối với bệnh nhân béo phì: tốc độ lọc của cầu thận lớn, tốc độ thanh thải creatinin lớn, do vậy thanh thải vancomycin gia tăng, tuy nhiên thể tích phân bố hầu như không thay đổi. Vì vậy, liều dùng cho bệnh nhân béo phì nên được tính bằng mg/kg căn cứ trên cân nặng thực tế. Do Vd không thay đổi, thanh thải vancomycin tăng nên t1/2 giảm (t1/2=3,3 giờ). Vì t1/2 ngắn hơn trên người bình thường nên khoảng 6 cách đưa liều nên được rút ngắn hơn nhằm đảm bảo duy trì được nồng độ điều trị trong máu[15],[21],[88].

+ Bệnh nhân suy thận: vancomycin được thải trừ chủ yếu qua lọc ở cầu thận. Trên bệnh nhân suy thận, thời gian bán thải kéo dài, thanh thải toàn bộ giảm. Ở bệnh nhân có chức năng thận bình thường, thời gian bán thải dao động từ 6 -10 giờ, còn ở bệnh nhân suy thận giai đoạn cuối t1/2 kéo dài tới 7 ngày [21]. Đặc tính dƣợc lực học Vancomycin là kháng sinh có tác dụng diệt khuẩn không phụ thuộc nồng độ.

Tác dụng diệt khuẩn xảy ra ở nồng độ gấp khoảng 4-5 lần MIC. Nồng độ cao hơn cũng không làm cho tác dụng diệt khuẩn nhanh và mạnh hơn [88]. Cơ chế diệt khuẩn của vancomycin Vancomycin ức chế sinh tổng hợp vách tế bào giai đoạn muộn trong quá trình phân chia của vi khuẩn. Đích tác dụng của vancomycin là các đơn phân murein có thành phần chính là các peptidoglycan.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Thử nghiệm can thiệp dược sỹ lâm sàng trong sử dụng vancomycin tại Bệnh viện Bạch Mai" trình bày một nghiên cứu quan trọng về vai trò của dược sỹ lâm sàng trong việc tối ưu hóa việc sử dụng vancomycin, một loại kháng sinh phổ biến. Nghiên cứu này không chỉ giúp cải thiện hiệu quả điều trị mà còn giảm thiểu tác dụng phụ và kháng thuốc, từ đó nâng cao chất lượng chăm sóc bệnh nhân. Độc giả sẽ tìm thấy những thông tin quý giá về cách can thiệp dược sỹ có thể ảnh hưởng tích cực đến kết quả điều trị, cũng như những khuyến nghị thực tiễn cho việc sử dụng thuốc an toàn và hiệu quả.

Để mở rộng thêm kiến thức về lĩnh vực này, bạn có thể tham khảo các tài liệu liên quan như Luận án tiến sĩ dược học nghiên cứu kiến thức thái độ thực hành bán kháng sinh của người bán thuốc tại cơ sở bán lẻ thuốc ở việt nam, nơi cung cấp cái nhìn sâu sắc về thái độ và kiến thức của người bán thuốc trong việc quản lý kháng sinh. Bên cạnh đó, Luận văn căn nguyên gây nhiễm khuẩn tiết niệu và mức độ nhạy cảm kháng sinh của các chủng vi khuẩn phân lập tại khoa phục hồi chức năng ở bệnh viện bạch mai từ tháng 01 12 sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về tình hình kháng sinh tại Bệnh viện Bạch Mai. Cuối cùng, Luận án tiến sĩ đấu thầu mua thuốc chữa bệnh tập trung theo pháp luật việt nam từ thực tiễn thành phố hồ chí minh sẽ cung cấp thông tin về quy trình đấu thầu thuốc, một khía cạnh quan trọng trong quản lý dược phẩm. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về việc sử dụng và quản lý kháng sinh trong y tế.