phần mở đầu và kết luận, luận văn đƣợc chia thành 4 chƣơng Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn về thu hút nguồn lực tài chính khởi nghiệp cho doanh nghiệp nhỏ và vừa Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 3: Thực trạng thu hút nguồn lực tài chính khởi nghiệp cho doanh nghiệp nhỏ và vừa của Việt Nam Chƣơng 4: Giải pháp nhằm thu hút nguồn lực tài chính khởi nghiệp cho doanh nghiệp nhỏ và vừa của Việt Nam 4 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN VỀ THU HÚT NGUỒN LỰC TÀI CHÍNH KHỞI NGHIỆP CHO DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Cho đến thời điểm nghiên cứu này thực hiện, đã có một sốcông trình nghiên cứu có đề cập đến thu hút nguồn lực tài chính khởi nghiệp cho doanh nghiệp nhỏ và vừa của Việt Nam ở nhiều cấp độ nghiên cứu khác nhau. Cụ thể: - Trong nghiên cứu ―Mở rộng và nâng cao khả năng tiếp cận tín dụng của các doanh nghiệp nhỏ và vừa‖ của Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ƣơng (2009), các tác giả đã chỉ ra rằng thiếu vốn và khó tiếp cận nguồn vốn là một trong những cản trở lớn nhất trong quá trình phát triển của loại hình doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam hiện nay. Theo nghiên cứu này, tình trạng thiếu vốn và khó tiếp cận nguồn vốn của các DNNVV xuất phát từ cả hai phía, bản thân doanh nghiệp và hệ thống ngân hàng thƣơng mại.
Tuy nhiên, nghiên cứu này chỉ tập trung phân tích những rào cản đối với các DNNVV trong việc tiếp cận nguồn vốn tín dụng mà không đề cập đến các nguồn vốn cũng nhƣ những kênh cung ứng vốn khác mà trong thực tế, DNNVV có thể tiếp cận để giải quyết những khó khăn về nguồn vốn của mình.(18) - Nghiên cứu của TS. Trƣơng Quang Thông (2010) trong đề tài ―Tài trợ tín dụng ngân hàng cho các DNNVV - Một nghiên cứu thực nghiệm tại khu vực thành phố Hồ Chí Minh‖, đã khảo sát, đánh giá thực trạng hoạt động của các DNNVV trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh, qua đó gợi ý chính sách hỗ trợ phát triển hệ thống DN này trên địa bàn thành phố Hồ 5 Chí Minh thông qua chính sách tài trợ tiếp cận vốn tín dụng từ hệ thống ngân hàng thƣơng mại. Theo nghiên cứu này, để các DNNVV Việt Nam phát triển cần đầu tƣ đổi mới trang thiết bị - công nghệ, mở rộng liên kết và xúc tiến thị trƣờng, nhƣng thiếu vốn và không đƣợc hỗ trợ tiếp cận vốn đã ngăn cản tiến trình nâng cao năng lực cạnh tranh của các DNNVV của Việt Nam. Tuy vậy, nghiên cứu chỉ tập trung phân tích thực trạng và các nhân tố ảnh hƣởng đến quá trình phát triển, chƣa làm rõ nguyên nhân cũng nhƣ nhƣng chính sách hỗ trợ cụ thể để giúp hệ thống doanh nghiệp này giải quyết bài toán về vốn.(16) - Luận án tiến sỹ của Nguyễn Minh Tuấn (2011) về đề tài ―Phát triển dịch vụ ngân hàng hỗ trợ phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam‖tác giả đã đánh giá và đƣa ra những giải pháp hoàn thiện và đa dạng hóa các dịch vụ ngân hàng thƣơng mại tạo điều kiện giúp phát triển các DNNVV.(15) Nhìn chung, các nghiên cứu trên đã góp phần nhận diện những khó khăn về nguồn vốn trong quá trình phát triển các DNNVV tại Việt Nam cũng nhƣ tại một số địa phƣơng, đề xuất những giải pháp, kiến nghị về mặt kỹ thuật (dịch vụ cung ứng vốn từ các ngân hàng thƣơng mại) cũng nhƣ chính sách (các giải pháp hỗ trợ) giúp hệ thống DNNVV thuận lợi hơn trong tiếp cận nguồn vốn.
Mặc dù vậy, cho đến thời điểm luâ ̣n văn này thực hiện thì vẫn chƣa có nghiên cứu tổng quát và đầy đủ về thu hút nguồn lực tài chính khởi nghiệp cho doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam. Có thể nói, đây là một 6 trong những yêu cầu cấp bách hiện nay nhằm giúp doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp tục phát triển cả về số lƣợng và chất lƣợng, góp phần phát triển kinh tế Việt Nam. Khái niệm về khởi nghiệp, doanh nghiệp nhỏ và vừa Thuật ngữ ―Doanh nghiệp nhỏ và vừa‖ (DNNVV) đƣợc sử dụng phổ biến ở tất cả các nƣớc trên thế giới và Việt Nam. Khái niệm DNNVV viết tắt là SMEs (Small and Medium Enterprises) đƣợc dùng phổ biến ở Cộng đồng các nƣớc Châu Âu và các Tổ chức quốc tế nhƣ World Bank, United Nation, WTO.
Trên thế giới, việc xác định quy mô DNNVV chỉ mang tính tƣơng đối do chịu tác động của trình độ phát triển kinh tế, tính chất ngành nghề, điều kiện phát triển của mỗi quốc gia hay mục đích phân loại DN trong từng thời kỳ. Song tựu chung, DNNVV đƣợc xác định dựa trên hai tiêu chí định lƣợng và định tính: Tiêu chí định tính: dựa trên các tiêu thức cơ bản nhƣ trình độ chuyên môn hóa, các nghiệp vụ tài chính, bộ máy quản lý, hình thức tổ chức DN. Các tiêu thức này có thể phản ánh đúng bản chất nhƣng lại khó xác định trên thực tế nên thƣờng đƣợc sử dụng để tham khảo khi phân loại DNNVV. Tiêu chí định lƣợng: Đƣợc xây dựng trên các chỉ tiêu nhƣ số lao động trung bình trong danh sách hoặc số lao động thƣờng xuyên thực tế hoạt động của DN, tổng giá trị tài sản hay vốn cố định hoặc giá trị tài sản (vốn) thực có của DN, tổng doanh thu hay lợi nhuận của DNNVV.
Doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam hiện nay đƣợc phân loại dựa trên tiêu chí quy định tại Nghị định số 39/2018/NĐ-CP ngày 11/03/2018 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừanhƣ sau: Doanh nghiệp nhỏ và vừa đƣợc phân theo quy mô bao gồm doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp vừa: 7 - Doanh nghiệp siêu nhỏ trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và lĩnh vực công nghiệp, xây dựng có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 10 ngƣời và tổng doanh thu của năm không quá 3 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 3 tỷ đồng. - Doanh nghiệp siêu nhỏ trong lĩnh vực thƣơng mại, dịch vụ có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 10 ngƣời và tổng doanh thu của năm không quá 10 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 3 tỷ đồng. - Doanh nghiệp nhỏ trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và lĩnh vực công nghiệp, xây dựng có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 100 ngƣời và tổng doanh thu của năm không quá 50 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 20 tỷ đồng, nhƣng không phải là doanh nghiệp siêu nhỏ theo quy định nhƣ trên. - Doanh nghiệp nhỏ trong lĩnh vực thƣơng mại, dịch vụ có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 50 ngƣời và tổng doanh thu của năm không quá 100 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 50 tỷ đồng, nhƣng không phải là doanh nghiệp siêu nhỏ theo quy định nhƣ trên.
- Doanh nghiệp vừa trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và lĩnh vực công nghiệp, xây dựng có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 200 ngƣời và tổng doanh thu của năm không quá 200 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 100 tỷ đồng, nhƣng không phải là doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp siêu nhỏ. - Doanh nghiệp vừa trong lĩnh vực thƣơng mại, dịch vụ có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 100 ngƣời và tổng doanh thu của năm không quá 300 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn 8 không quá 100 tỷ đồng, nhƣng không phải là doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ. ―Khởi nghiệp‖ là một cụm từ khá quen thuộc ngày nay, đƣợc nhắc đến với tần suất cao trên các phƣơng tiện thông tin đại chúng, là một nội dung quan trọng trong nhiều cuộc gặp mặt các cấp và là một trong những ƣu tiên trong kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam trong thời gian gần đây. Trong bối cảnh hội nhập kinh tế ngày càng sâu rộng, việc tăng cƣờng sức mạnh kinh tế là một bài toán cấp thiết, trong đó vai trò của đội ngũ doanh nhân, đặc biệt là tại khu vực kinh tế tƣ nhân là hết sức quan trọng.
Nếu nhƣ trƣớc đây, Nghị quyết Đại hội X của Đảng năm 2006 đã đề cập đến nền kinh tế tƣ nhân ―có vai trò quan trọng, là một trong những động lực của nền kinh tế‖ thì đến Đại hội XII của Đảng năm 2016, khu vực kinh tế tƣ nhân đã đƣợc nhấn mạnh là ―một động lực quan trọng của nền kinh tế‖. Điều này cho thấy tầm quan trọng ngày càng gia tăng của việc thúc đẩy nền kinh tế tƣ nhân đi lên trong công cuộc phát triển kinh tế nƣớc ta hiện nay. Khởi nghiệp, đặc biệt là khởi nghiệp sáng tạo, hình thành nên những doanh nghiệp trẻ, sáng tạo và hội nhập là một trong những chìa khoá để đƣa nền kinh tế Việt Nam lên một tầm cao hơn và cải thiện năng lực cạnh tranh của nền kinh tế quốc gia trên trƣờng quốc tế. Để làm đƣợc điều này, cần phải có những cơ chế, chính sách phù hợp để tạo môi trƣờng kinh doanh thuận lợi cho các doanh nghiệp khởi nghiệp có cơ hội phát triển.
Thuật ngữ ―Thu hút nguồn lực tài chính khởi nghiệp cho doanh nghiệp nhỏ và vừa‖. Trong quá trình khởi sự kinh doanh, tùy thuộc vào mức độ phát triển các sản phẩm tài chính và thị trƣờng tài chính, các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại các quốc gia khác nhau sẽ có các cơ hội tiếp cận các nguồn tài chính khác nhau. Thông thƣờng, các nguồn lực tài chính cho DNNVV đƣợc thành hai loại là nguồn tài chính bên trong và nguồn tài 9 chính bên ngoài. Nguồn tài chính bên trong thƣờng là nguồn đƣợc lựa chọn đầu tiên và quan trọng để tiếp cận vốn, chủ yếu là lợi nhuận giữ lại và khấu hao.
Nguồn tài chính bên ngoài đƣợc tiếp cận có thể trực tiếp bằng trái phiếu, cổ phiếu hoặc tiếp cận tài chính gián tiếp từ các khoản vay ngân hàng hoặc các nguồn tài chính từ các tổ chức tài chính phi ngân hàng, các quỹ đầu tƣ mạo hiểm hay đầu tƣ thiên thần. Tiêu chí đánh giá của thu hút nguồn lực tài chính khởi nghiệp cho doanh nghiệp nhỏ và vừa: luận văn sử dụng tiêu chí định lƣợng về số lƣợng DNNVV và tổng nguồn tài chính huy động đƣợc từ bên ngoài của DNNVV.