Luận văn thạc sĩ về thông điệp dành cho người yếu thế trên sóng truyền hình địa phương

Khám phá luận văn thạc sĩ USSH về thông điệp người yếu thế trên sóng truyền hình địa phương, phân tích tác động và ý nghĩa xã hội.

Chuyên ngành

Báo chí học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2019

117
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỞ ĐẦU

0.1. Lý do chọn đề tài

0.2. Tình hình nghiên cứu

0.3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

0.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

0.5. Phương pháp nghiên cứu

0.6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn

0.7. Kết cấu, bố cục

1. CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ VẤN ĐỀ NGƯỜI YẾU THẾ TRÊN HỆ THỐNG TRUYỀN HÌNH ĐỊA PHƯƠNG

1.1. Một số khái niệm liên quan đến đề tài

1.2. Thông điệp, thông điệp báo chí. Người yếu thế

1.3. Chương trình truyền hình

1.4. Truyền hình địa phương

1.5. Vấn đề người yếu thế trong xã hội hiện nay và vai trò của báo chí, truyền hình đối với người yếu thế

1.6. Vai trò thông tin. Vai trò giáo dục, định hướng và tạo lập dư luận

1.7. Vai trò giám sát, phản biện xã hội

1.8. Vai trò liên kết, cầu nối giữa người yếu thế với nhà nước, với cộng đồng. Một số vai trò, tác động khác

1.9. Các nhóm nội dung thông điệp trọng tâm về người yếu thế trên báo chí, truyền hình

1.9.1. Thông điệp về truyền thông chính sách

1.9.2. Thông điệp mang mục tiêu tác động thay đổi hành vi

1.9.3. Thông điệp mang ý nghĩa giáo dục, lan toả tri thức, kinh nghiệm

1.9.4. Thông điệp mang ý nghĩa văn hoá, giải trí, thiện nguyện

1.9.5. Thông điệp dựa trên vai trò chủ thể của người yếu thế

1.10. Truyền thông về người yếu thế nhìn từ Lý thuyết Thiết lập chương trình nghị sự

1.11. Lý thuyết Thiết lập chương trình nghị sự

1.12. Truyền thông về người yếu thế từ nền tảng Lý thuyết Thiết lập chương trình nghị sự

1.13. Mô hình cơ chế tác động của thông điệp về người yếu thế trên báo chí, truyền hình

1.14. Tiêu chí đánh giá nội dung thông điệp về người yếu thế trên sóng truyền hình

1.15. Tiểu kết chương 1

2. CHƯƠNG 2: KHẢO SÁT THÔNG ĐIỆP VỀ NGƯỜI YẾU THẾ TRÊN SÓNG TRUYỀN HÌNH ĐỊA PHƯƠNG HIỆN NAY

2.1. Khái quát về các đài truyền hình, chương trình truyền hình trong phạm vi nghiên cứu

2.1.1. Đài PT-TH Vĩnh Long

2.1.2. Đài PTTH Bắc Kạn

2.1.3. Đài PT - TH Phú Yên

2.2. Khảo sát, phân tích nội dung thông điệp về người yếu thế trên sóng truyền hình địa phương hiện nay

2.2.1. Thông điệp về truyền thông chính sách

2.2.2. Thông điệp mang mục tiêu tác động thay đổi hành vi

2.2.3. Thông điệp mang ý nghĩa giáo dục, lan tỏa tri thức, kinh nghiệm

2.2.4. Thông điệp mang ý nghĩa văn hóa, giải trí, thiện nguyện

2.2.5. Thông điệp dựa trên vai trò chủ thể của người yếu thế

2.3. Đánh giá thực trạng nội dung của các chương trình

2.3.1. Về nội dung

2.3.2. Về hình thức thể hiện

2.3.3. Đánh giá những thành công và hạn chế

2.4. Tiểu kết chương 2

3. CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG, HIỆU QUẢ CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH DÀNH CHO NGƯỜI YẾU THẾ

3.1. Bài học kinh nghiệm trong hoạt động sản xuất chương trình truyền hình về người yếu thế

3.2. Khảo sát đối tượng công chúng

3.3. Xây dựng hệ thống đề tài theo nhu cầu công chúng

3.4. Lựa chọn hình thức thể hiện phù hợp, sáng tạo. Đánh giá phản hồi của công chúng. Xu hướng phát triển các chương trình truyền hình về người yếu thế. Phát triển các chương trình với hình thức thể hiện mới

3.5. Xã hội hóa các chương trình truyền hình

3.6. Tiểu kết chương 3

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về thông điệp người yếu thế trên truyền hình địa phương

Thông điệp về người yếu thế trên sóng truyền hình địa phương đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao nhận thức xã hội. Truyền hình địa phương không chỉ là phương tiện giải trí mà còn là cầu nối thông tin giữa các nhóm yếu thế và cộng đồng. Các chương trình truyền hình có thể giúp người yếu thế tiếp cận thông tin cần thiết, từ đó cải thiện chất lượng cuộc sống của họ.

1.1. Khái niệm người yếu thế và vai trò của truyền hình

Người yếu thế bao gồm những nhóm xã hội có hoàn cảnh khó khăn, như người nghèo, người khuyết tật, và các nhóm thiệt thòi khác. Truyền hình địa phương có thể giúp nâng cao nhận thức về quyền lợi của họ và tạo ra sự đồng cảm trong cộng đồng.

1.2. Tác động của thông điệp truyền hình đến người yếu thế

Thông điệp từ truyền hình có thể tác động tích cực đến nhận thức và hành vi của cộng đồng đối với người yếu thế. Các chương trình truyền hình có thể giúp giảm bớt sự kỳ thị và tạo cơ hội cho người yếu thế hòa nhập vào xã hội.

II. Vấn đề và thách thức trong việc truyền thông về người yếu thế

Mặc dù truyền hình địa phương có tiềm năng lớn trong việc truyền tải thông điệp về người yếu thế, nhưng vẫn còn nhiều thách thức. Nội dung chương trình thường thiếu chiều sâu và không phản ánh đúng thực tế cuộc sống của người yếu thế. Điều này dẫn đến việc thông điệp không đạt được hiệu quả như mong muốn.

2.1. Những hạn chế trong nội dung chương trình truyền hình

Nhiều chương trình truyền hình về người yếu thế thường chỉ tập trung vào các câu chuyện cảm động mà thiếu đi các thông tin thiết thực. Điều này khiến cho người xem không thể hiểu rõ hơn về cuộc sống và nhu cầu của người yếu thế.

2.2. Sự thiếu hụt thông tin và nguồn lực

Các đài truyền hình địa phương thường gặp khó khăn trong việc thu thập thông tin và nguồn lực để sản xuất các chương trình chất lượng. Điều này dẫn đến việc thông điệp không được truyền tải một cách hiệu quả.

III. Phương pháp nâng cao chất lượng thông điệp về người yếu thế

Để cải thiện chất lượng thông điệp về người yếu thế trên truyền hình địa phương, cần áp dụng các phương pháp sáng tạo và hiệu quả. Việc xây dựng nội dung chương trình cần dựa trên nhu cầu thực tế của người yếu thế và cộng đồng.

3.1. Xây dựng nội dung chương trình dựa trên nhu cầu công chúng

Các chương trình cần được thiết kế dựa trên nhu cầu và mong muốn của người yếu thế. Việc khảo sát ý kiến công chúng sẽ giúp các đài truyền hình hiểu rõ hơn về những gì mà người yếu thế cần.

3.2. Tăng cường sự tham gia của người yếu thế trong sản xuất chương trình

Khuyến khích người yếu thế tham gia vào quá trình sản xuất chương trình sẽ giúp tạo ra những nội dung chân thực và gần gũi hơn. Điều này cũng giúp nâng cao nhận thức của cộng đồng về những khó khăn mà họ đang phải đối mặt.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu về thông điệp người yếu thế

Nghiên cứu về thông điệp người yếu thế trên truyền hình địa phương đã chỉ ra rằng việc truyền tải thông điệp một cách hiệu quả có thể tạo ra những thay đổi tích cực trong nhận thức của cộng đồng. Các chương trình thành công đã giúp nâng cao quyền lợi và sự hòa nhập của người yếu thế.

4.1. Các chương trình truyền hình thành công về người yếu thế

Một số chương trình truyền hình đã thành công trong việc truyền tải thông điệp về người yếu thế, giúp nâng cao nhận thức và tạo ra sự đồng cảm trong cộng đồng. Những chương trình này thường có nội dung phong phú và đa dạng.

4.2. Đánh giá tác động của thông điệp đến cộng đồng

Đánh giá tác động của các chương trình truyền hình đến cộng đồng là rất quan trọng. Các nghiên cứu cho thấy rằng thông điệp tích cực có thể giúp thay đổi cách nhìn nhận của xã hội về người yếu thế.

V. Kết luận và tương lai của thông điệp người yếu thế trên truyền hình địa phương

Tương lai của thông điệp về người yếu thế trên truyền hình địa phương phụ thuộc vào sự đổi mới và sáng tạo trong nội dung chương trình. Cần có sự hợp tác chặt chẽ giữa các đài truyền hình, cộng đồng và các tổ chức xã hội để đảm bảo rằng thông điệp được truyền tải một cách hiệu quả.

5.1. Định hướng phát triển nội dung chương trình

Các đài truyền hình cần xác định rõ định hướng phát triển nội dung chương trình để đáp ứng nhu cầu của người yếu thế. Việc này sẽ giúp nâng cao chất lượng và hiệu quả của thông điệp.

5.2. Tăng cường hợp tác giữa các bên liên quan

Hợp tác giữa các đài truyền hình, tổ chức xã hội và cộng đồng sẽ giúp tạo ra những chương trình chất lượng hơn. Sự phối hợp này sẽ đảm bảo rằng thông điệp về người yếu thế được truyền tải một cách chính xác và hiệu quả.

19/07/2025
Luận văn thạc sĩ ussh thông điệp về người yếu thế trên sóng truyền hình địa phương

Trích đoạn nội dung tài liệu

mở đầu bằng lời giới thiệu, nhạc hiệu, kết thúc bằng lời chào 19 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tạm biệt, đáp ứng yêu cầu tuyên truyền của cơ quan báo chí truyền hình nhằm mang lại hiệu quả cao nhất cho khán giả. Cụ thể, chương 7 cuốn giáo trình “Báo chí truyền hình” do PGS. Dương Xuân Sơn biên soạn, NXB ĐHQGHN, năm 2012 viết; trong tiếng Anh, chương trình là “programme”, chương trình truyền hình là “programme television”. Chương trình truyền hình được hiểu gồm các chương trình như: chương trình “Thời sự”, “Vì an ninh Tổ quốc”, chương trình “Kinh tế”, “Văn hóa”, “Quân đội”, “Phụ nữ”, “Thiếu nhi”, “Trò chơi”,….được phân bổ theo các kênh truyền hình và được thể hiện bằng những nội dung cụ thể qua các chương trình bằng các thể loại tác phẩm truyền hình.

Chương trình truyền hình đề cập tới các vấn đề của đời sống xã hội không phải một cách ngẫu nhiên như tự thân nó có, mà nó thường chuyển tải các loại thông tin từ chương trình này đến chương trình khác, từ ngày này qua ngày khác nhằm phục vụ đối tượng công chúng xác định. Nội dung của nó làm sâu sắc thêm một cách trực tiếp những tư tưởng, chủ đề dần dần tạo thói quen trong ý thức công chúng. Có thể nói chương trình truyền hình là kết quả cuối cùng của quá trình giao tiếp với công chúng truyền hình[17]. Truyền hình địa phương Xuất phát từ lợi thế là có sự lan tỏa và tác động mạnh mẽ đến công chúng, trong hoạt động truyền thông phát triển, vai trò của truyền hình, đặc biệt là các kênh truyền hình địa phương giữ một vai trò quan trọng.

Tại Việt Nam, truyền hình là kênh thông tin tuyền truyền đường lối và chính sách của Đảng và Nhà nước; truyền tải nhanh chóng, chính xác, kịp thời những quyết sách quan trọng, mang tính chiến lược tới mọi vùng miền của Tổ quốc. Những thông tin về tình hình kinh tế, chính trị, ngoại giao, các hoạt động kinh tế quốc tế trong và ngoài nước được cập nhật liên tục và truyền tải kịp thời. Các kênh truyền hình góp phần thu hẹp khoảng cách giữa các vùng miền, thúc đẩy sự phát triển kinh tế, quảng bá hình ảnh, những lợi thế của từng địa 20 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com phương, mỗi vùng miền và cả quốc gia ra bên ngoài thế giới. Đồng thời, truyền hình cũng tạo ra những cơ hội cho các hoạt động sản xuất, kinh doanh, giao lưu văn hoá và là kênh cung cấp các hoạt động giải trí,.

Hiện nay, cả nước có gần 70 đài phát thanh, truyền hình. 63 tỉnh, thành phố trên cả nước đều có kênh truyền hình riêng, do UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quản lý. Đài PT - TH địa phương cũng là cơ quan ngôn luận của Đảng bộ tỉnh, thành phố; là diễn đàn của nhân dân địa phương. Chính vì vậy, Đài PT - TH địa phương có vai trò quan trọng trong việc tuyên truyền nhằm giữ vững sự ổn định về chính trị, thúc đẩy phát triển kinh tế, nâng cao dân trí và đời sống xã hội của địa phương đó.

Đồng thời, các Đài PT - TH địa phương còn thực hiện nhiệm vụ tuyên truyền, phổ biến đường lối, chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và các Nghị quyết, chính sách vào cuộc sống; góp phần bảo tồn, phát huy các giá trị bản sắc dân tộc, thực hiện chức năng làm cầu nối giữa Đảng, Nhà nước và các đoàn thể xã hội với nhân dân; củng cố và tăng cường niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước. Báo chí địa phương nói chung và truyền hình địa phương nói riêng có lợi thế là nắm chắc hoàn cảnh cụ thể, phong tục tập quán địa phương, có thể đi sâu vào từng đối tượng riêng biệt. Từ đó thông tin trở nên gần gũi và góp phần tác động vào tư tưởng, tình cảm của người dân địa phương một cách trực tiếp. Công chúng địa phương thích xem truyền hình địa phương mình vì họ có thể cập nhật được thông tin về những sự kiện, vấn đề đang xảy ra xung quanh mình.

Vấn đề ngƣời yếu thế và vai trò của báo chí, truyền hình đối với ngƣời yếu thế trong xã hội hiện nay Theo số liệu công bố của Tổng cục Thống kê và UNICEF hôm 11/1/2019 đã công bố kết quả điều tra quốc gia về người khuyết tật tại Việt Nam. Hơn 7% dân số 2 tuổi trở lên - khoảng hơn 6,2 triệu người, là người 21 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com khuyết tật[26]. Bên cạnh đó, có 13% dân số - gần 12 triệu người, sống chung trong hộ gia đình có người khuyết tật. Báo cáo giải trình trước Quốc hội, Bộ trưởng Bộ LĐ-TBXH Đào Ngọc Dung được đăng tải trên cổng thông tin của Bộ LĐ – TBXH đăng tải ngày 06/08/2019 cho biết, đến 31/12/2018 cả nước có khoảng 6,2 triệu người khuyết tật (NKT) từ 2 tuổi trở lên (chiếm 6,5% dân số), trong đó có 1,03 triệu người khiếm thị; 930 ngàn người khiếm thính; 1,1 triệu NKT nặng và đặc biệt nặng; 5,1 triệu NKT nhẹ.

Ngoài ra, nhóm yếu thế còn bao gồm phụ nữ nghèo và những người chịu áp bức trong xã hội, người dân tộc thiểu số… cũng đang chiếm số lượng khá lớn trong xã hội[24]. Mặc dù chiếm số lượng không hề nhỏ nhưng số đông ấy lại đang gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp cận việc làm và có những đóng góp cho xã hội. Hiện nay, có tới khoảng 50% số người khuyết tật đang cần tìm việc làm nhưng không thể có được công việc phù hợp. Những nguyên nhân được chỉ ra với người khuyết tật trong việc khó tiếp cận việc làm là từ chính bản thân họ và từ nguyên nhân xã hội.

Cụ thể, người khuyết tật có những hạn chế về ngoại hình, giao tiếp, khả năng vận động, sức khỏe hoặc thậm chí là về tư duy trí tuệ. Do đó, không phải công việc nào cũng phù hợp với khả năng của họ. Thêm nữa, cũng do những hạn chế trên nên quá trình học tập, tiếp thu của họ cũng gặp nhiều khó khăn hơn mọi người. Phải là những người thực sự có nghị lực, cố gắng mới có thể đạt được kết quả tích cực như những người bình thường.

Tuy nhiên không phải ai cũng có được sự nỗ lực phi thường mà ngược lại, phần lớn những người khuyết tật lại mang trong mình sự tự ti và mặc cảm bởi những thiếu sót của bản thân nên họ càng khó khăn trong việc hòa nhập và tiếp cận công việc. Nguyên nhân từ phía xã hội chính là sự kỳ thị của người bình thường với người khuyết tật, từ đó tạo ra khoảng cách. Họ không tin tưởng vào khả năng làm việc của người khuyết tật nên không muốn giao việc cho những người này. Mặt khác, nhiều người gặp khó khăn trong giao tiếp, truyền đạt nội dung công việc với người khuyết tật nên họ cũng không muốn làm việc lâu dài cùng người khuyết 22 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.

Những nguyên nhân ấy tạo nên rào cản vô cùng lớn khiến người khuyết tật khó tiếp cận công việc. Điều này kéo theo nhiều khó khăn khác trong việc ổn định cuộc sống của nhóm đối tượng yếu thế này. Còn với đối tượng là người dân tộc thiểu số, họ lại gặp những khó khăn trong việc tiếp cận các dịch vụ an sinh xã hội thiết yếu và cập nhật các kiến thức xã hội cơ bản. Nguyên nhân của việc này là do những bất lợi về vị trí địa lý, dẫn tới giao thông đi lại còn nhiều hạn chế, các dịch vụ chăm sóc sức khỏe và giáo dục khó tiếp cận được tới người dân.

Mặc khác, nhiều người dân tộc thiểu số lại vẫn giữ những phong tục, tín ngưỡng lạc hậu nên không chịu tiếp thu những kiến thức mới. Điều nay cũng gây khó khăn cho việc truyền tải thông tin tới người dân tộc. Do đó, hệ quả dễ thấy là trình độ dân trí thấp, tay nghề yếu kém nên họ khó tìm kiếm được công việc để ổn định thu nhập. Nhóm đối tượng này cũng gặp nhiều khó khăn về kinh tế và chất lượng đời sống chưa cao.

Nguyên nhân bởi những nơi này thường gặp những bất lợi về điều kiện tự nhiên như đất đai thổ nhưỡng, nguồn nước, điều kiện canh tác. Có thể nói, nhóm yếu thế ở nước ta hiện nay đang chiếm số lượng khá lớn và vẫn gặp phải những rào cản khó có thể giải quyết dứt điểm. Do những hạn chế về điều kiện sống, khả năng của bản thân, có thể tóm lược lại những rào cản mà nhóm yếu thế gặp trong cuộc sống như: Khó khăn trong tìm kiếm việc làm và ổn định thu nhập; Chịu sự kỳ thị và phân biệt đối xử của phần lớn những người bình thường trong xã hội; Khó khăn trong việc tìm kiếm và tiếp nhận thông tin liên quan trực tiếp tới bản thân họ; Khó khăn trong việc tiếp cận và sử dụng các phương tiện thiết yếu trong cuộc sống hoặc các dịch vụ xã hội cần thiết khác (giáo dục, y tế, giải trí …) Đây là những điều mà từ nhiều năm nay, Đảng và Nhà nước vẫn đang nỗ lực giúp đỡ để cải thiện chất lượng cuộc sống của nhóm đối tượng này. Với những vấn đề trên, báo chí nói chung và truyền hình nói riêng đã thể hiện những vai trò quan trọng: 23 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.

Vai trò thông tin Báo chí trong đó có truyền hình không chỉ phản ánh đời sống xã hội qua việc thông tin nhanh nhất, chân thực nhất những sự kiện thời sự trong đời sống, mà còn ở việc định hướng thông tin tới công chúng. Các thông tin cung cấp cho người yếu thế có thể là các thông tin liên quan tới chính sách pháp luật ảnh hưởng trực tiếp tới họ, có thể là các thông tin bổ sung kiến thức về chăm sóc sức khỏe, chăn nuôi trồng trọt. Những thông tin này còn giúp báo chí thực hiện một vai trò lớn hơn đó là nâng cao dân trí của từng cá nhân thuộc nhóm yếu thế. Bởi phần lớn những người yếu thế là người có trình độ học vấn thấp hơn so với người bình thường nên thông qua các thông tin, báo chí đã thực hiện việc nâng cao sự hiểu biết và xóa bớt những hiểu biết nông cạn, hạn hẹp, bó buộc người yếu thế vào xã hội thu nhỏ của họ.

Với sức mạnh và độ lan tỏa rộng khắp của mình, báo chí giúp người yếu thế tiếp cận với các nguồn thông tin tri thức cần thiết và mới mẻ để cải thiện công việc.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Thông điệp về người yếu thế trên truyền hình địa phương" khám phá cách mà truyền hình địa phương truyền tải thông điệp về những nhóm người yếu thế trong xã hội. Tài liệu nhấn mạnh tầm quan trọng của việc nâng cao nhận thức và tạo ra sự đồng cảm từ cộng đồng đối với những người gặp khó khăn. Qua đó, nó không chỉ giúp người xem hiểu rõ hơn về những thách thức mà các nhóm này phải đối mặt, mà còn khuyến khích hành động hỗ trợ và bảo vệ quyền lợi của họ.

Để mở rộng thêm kiến thức về chủ đề này, bạn có thể tham khảo tài liệu Luận văn thực hiện các chính sách an sinh xã hội đối với nhóm người yếu thế ở việt nam, nơi phân tích các chính sách hỗ trợ cho những người yếu thế. Ngoài ra, tài liệu Tác động của chương trình truyền hình đến nhận thức và hành vi bảo vệ môi trường của người xem cũng cung cấp cái nhìn sâu sắc về ảnh hưởng của truyền hình đến hành vi xã hội. Những thông tin này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về vai trò của truyền hình trong việc nâng cao nhận thức cộng đồng.