Tổng quan nghiên cứu

Theo thống kê từ Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Việt Nam hiện có hơn 2,31 triệu hộ nghèo (chiếm tỷ lệ 9,79% tổng số hộ dân cư) và trên 1,24 triệu hộ cận nghèo (chiếm 5,27%). Bên cạnh đó, số lượng người khuyết tật từ 2 tuổi trở lên đã vượt mức 6,2 triệu người, chiếm khoảng 6,5% đến 7,0% dân số, đồng thời có tới gần 12 triệu người (tương đương 13% dân số) đang sống chung trong các hộ gia đình có người khuyết tật. Thực tế cho thấy có khoảng 50% người khuyết tật có nhu cầu việc làm nhưng chưa thể tiếp cận công việc phù hợp do rào cản về thể chất và định kiến xã hội. Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là giải quyết sự thiếu hụt các thông điệp truyền thông đa chiều, nhân văn và mang tính trao quyền cho người yếu thế trên sóng truyền hình địa phương, nơi thông tin thường bị đóng khung trong hoạt động cứu trợ thuần túy.

Mục tiêu cụ thể của đề tài là khảo sát, phân tích cấu trúc nội dung thông điệp về nhóm yếu thế, đánh giá những thành công và hạn chế trong các chương trình phát sóng, từ đó đề xuất hệ sinh thái giải pháp nâng cao hiệu quả tuyên truyền an sinh xã hội. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào các chương trình chuyên đề tiêu biểu tại ba đài truyền hình địa phương đại diện cho ba miền gồm Đài Phát thanh và Truyền hình Vĩnh Long, Đài Phát thanh và Truyền hình Phú Yên và Đài Phát thanh và Truyền hình Bắc Kạn trong khoảng thời gian khảo sát 11 tháng (từ tháng 5 năm 2018 đến tháng 3 năm 2019, đối chiếu dữ liệu phát sóng giai đoạn từ tháng 10 năm 2017 đến tháng 10 năm 2018). Ý nghĩa thực tiễn của công trình thể hiện qua việc cung cấp luận cứ khoa học giúp 63 đài phát thanh và truyền hình cấp tỉnh chuẩn hóa quy trình sản xuất, hướng tới mục tiêu nâng tỷ lệ tiếp cận thông tin chính sách của người thiệt thòi lên trên 80% và gia tăng sự thấu cảm xã hội.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng Lý thuyết Thiết lập chương trình nghị sự (Agenda Setting Theory) được khởi xướng bởi Maxwell McCombs và Donald Shaw vào năm 1972, kết hợp 5 cơ chế lựa chọn sự kiện của nhà nghiên cứu G. Ray Funkhouser nhằm phân tích cách thức các cơ quan báo chí định hướng sự quan tâm của công chúng đối với nhóm đối tượng yếu thế. Đồng thời, nghiên cứu tích hợp Lý thuyết Truyền thông thay đổi hành vi (BCC) để đánh giá mức độ chuyển hóa nhận thức từ tiếp nhận thông tin sang hành động cụ thể.

Mô hình nghiên cứu áp dụng trực tiếp cơ chế tác động của thông điệp báo chí về người yếu thế do Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Văn Dững đề xuất, mô tả dòng chảy tương tác từ thực tiễn đời sống, năng lực chủ thể nhà báo, mã hóa tác phẩm truyền hình đến việc tác động vào ý thức hệ đại chúng để tạo ra hiệu lực xã hội và hiệu quả hành vi. Khung khái niệm cốt lõi bao gồm bốn thuật ngữ chính: Người yếu thế (nhóm xã hội chịu thiệt thòi về vị thế, thể chất, kinh tế, tâm lý, bao gồm người nghèo, người khuyết tật, đồng bào dân tộc thiểu số, người nhiễm HIV và cộng đồng LGBT), Thông điệp báo chí (tư tưởng cốt lõi được truyền tải qua ngôn ngữ hình ảnh, âm thanh và lời bình), Truyền hình địa phương (kênh truyền thông thiết yếu của Đảng bộ và chính quyền 63 tỉnh, thành phố) và Chương trình truyền hình chuyên đề (chuỗi tác phẩm phát sóng định kỳ tập trung vào một nhóm chủ đề xác định).

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được thu thập từ 120 tập phát sóng thuộc các chương trình chuyên đề gồm "Trái tim nhân ái" (Đài Phát thanh và Truyền hình Vĩnh Long), "Nhịp cầu nhân ái" (Đài Phát thanh và Truyền hình Phú Yên) và "Truyền hình khoa giáo dành cho đồng bào dân tộc thiểu số" (Đài Phát thanh và Truyền hình Bắc Kạn), kết hợp cùng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và 15 cuộc phỏng vấn sâu với các nhà báo, biên tập viên, nhà quản lý cùng khán giả theo dõi chương trình.

Phương pháp chọn mẫu là phương pháp chọn mẫu chủ đích và phân tầng địa lý đại diện cho ba vùng kinh tế - xã hội đặc thù: Đồng bằng sông Cửu Long, Duyên hải Nam Trung Bộ và Vùng núi phía Bắc. Lý do lựa chọn kết hợp phân tích nội dung định tính và định lượng nhằm bóc tách chính xác tần suất xuất hiện của 5 nhóm thông điệp cơ bản (truyền thông chính sách, thay đổi hành vi, giáo dục tri thức, văn hóa giải trí thiện nguyện và vai trò chủ thể), giảm thiểu tính cảm tính chủ quan và đảm bảo độ tin cậy khoa học cao nhất. Toàn bộ quy trình khảo sát, thống kê và phỏng vấn thực địa được triển khai liên tục trong suốt 11 tháng nghiên cứu.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, cấu trúc thông điệp có sự mất cân đối nghiêm trọng khi nhóm thông điệp mang tính văn hóa, giải trí và thiện nguyện chiếm tỷ trọng áp đảo lên tới 58,5% tổng thời lượng khảo sát, trong khi nhóm thông điệp truyền thông chính sách chỉ chiếm 14,2%, tạo ra khoảng cách chênh lệch hơn 44% giữa việc cứu trợ trước mắt và phổ biến quyền lợi dài hạn.

Thứ hai, nhóm thông điệp dựa trên vai trò chủ thể của người yếu thế chỉ đạt 8,3% tổng số chương trình phát sóng. Có tới hơn 75% tác phẩm vẫn duy trì góc nhìn một chiều, miêu tả người yếu thế như đối tượng thụ động cần được thương hại thay vì tôn vinh năng lực tự chủ và khả năng đóng góp cho cộng đồng.

Thứ ba, cơ cấu đối tượng phản ánh phân bổ không đồng đều giữa các nhóm thiệt thòi. Người nghèo và người khuyết tật vận động chiếm tới 62,0% dung lượng phản ánh, trong khi đồng bào dân tộc thiểu số vùng sâu chiếm khoảng 21,5%, nhóm người nhiễm HIV chiếm 4,5% và cộng đồng LGBT chỉ xuất hiện dưới 2,0% trên các kênh sóng truyền hình địa phương.

Thứ tư, phương thức thể hiện còn đơn điệu khi 68,0% chương trình áp dụng thể loại phóng sự truyền thống kết hợp lời bình áp đặt cảm xúc, chỉ có 12,5% chương trình ứng dụng tọa đàm tương tác hoặc truyền hình thực tế để nhân vật tự cất lên tiếng nói cá nhân.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi của sự mất cân đối xuất phát từ áp lực thu hút tài trợ và tạo xúc cảm nhanh của các đài địa phương, cùng với định mức ngân sách sản xuất chương trình chuyên đề tại địa phương thường thấp hơn khoảng 60% so với các đài trung ương. Bên cạnh đó, nhận thức của một bộ phận biên tập viên vẫn nhìn nhận người yếu thế qua lăng kính làm từ thiện thay vì góc nhìn tiếp cận dựa trên quyền con người.

Khi so sánh với các nghiên cứu tương tự tại Đài Truyền hình Việt Nam, các đài địa phương có ưu thế vượt trội về tính gần gũi, nắm bắt phong tục tập quán bản địa cao hơn 35%, song lại hạn chế hơn về kỹ thuật dựng hình và chiều sâu phản biện chính sách. Dữ liệu nghiên cứu được trực quan hóa sinh động qua Biểu đồ hình tròn phân bổ tỷ trọng 5 nhóm thông điệp, Biểu đồ cột chồng so sánh mức độ đa dạng đối tượng giữa ba đài Vĩnh Long, Phú Yên, Bắc Kạn, cùng Bảng ma trận đối chiếu thời lượng phát sóng trong các khung giờ vàng từ 19h00 đến 21h00. Kết quả nghiên cứu khẳng định sự cấp thiết phải chuyển đổi mô hình truyền thông từ cứu trợ bị động sang trao quyền bình đẳng cho mọi công dân.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, tái cơ cấu tỷ trọng nội dung phát sóng: Tăng cường thời lượng cho nhóm thông điệp truyền thông chính sách và giáo dục kỹ năng lên mức 35% đến 40% (tăng thêm ít nhất 20% so với hiện nay), đồng thời giảm tỷ lệ các phóng sự kêu gọi từ thiện thuần túy xuống dưới 40%. Giải pháp này cần được Ban Giám đốc và Phòng Biên tập các đài truyền hình địa phương triển khai trong lộ trình 12 tháng.

Thứ hai, đổi mới định dạng chương trình lấy người yếu thế làm trung tâm: Chuyển đổi tối thiểu 30% tổng số chương trình sang thể loại truyền hình thực tế, tọa đàm tương tác hoặc ký sự nhân vật, tạo không gian để người yếu thế tự trình bày quan điểm và giải pháp vượt khó. Đội ngũ tổ chức sản xuất và đạo diễn cần thực hiện định kỳ theo từng quý từ năm 2020.

Thứ ba, mở rộng cơ chế xã hội hóa nguồn lực sản xuất: Ký kết hợp tác bền vững với tối thiểu 10 doanh nghiệp và tổ chức phi chính phủ tại địa phương, nâng mức đầu tư sản xuất cho mỗi số phát sóng chuyên đề lên tối thiểu 50 triệu đồng nhằm nâng cao chất lượng âm thanh, hình ảnh và đồ họa. Phòng Dịch vụ - Quảng cáo phối hợp cùng Phòng Kế hoạch Tài chính hoàn thành trong 6 tháng đầu năm.

Thứ tư, chuẩn hóa đạo đức nghề nghiệp và tập huấn nghiệp vụ: Tổ chức 04 khóa đào tạo chuyên sâu hàng năm cho 100% phóng viên, biên tập viên mảng an sinh xã hội về kỹ năng phỏng vấn nhạy cảm và quy chuẩn pháp lý bảo vệ quyền riêng tư của nhóm yếu thế. Sở Thông tin và Truyền thông phối hợp cùng Hội Nhà báo địa phương chủ trì thực hiện.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm 1: Ban lãnh đạo, trưởng ban biên tập và nhà báo tại gần 70 đài phát thanh và truyền hình trên cả nước. Tài liệu cung cấp bộ khung tiêu chí đánh giá chuẩn xác 5 nhóm thông điệp, giúp tối ưu hóa fomat chương trình, gia tăng chỉ số người xem từ 15% đến 20% và nâng cao uy tín xã hội của cơ quan truyền thông.

Nhóm 2: Các nhà hoạch định chính sách thuộc Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội cùng hệ thống Sở ngành tại các tỉnh, thành phố. Luận văn đem lại góc nhìn thực chứng về rào cản truyền thông của 6,2 triệu người khuyết tật, hỗ trợ xây dựng các chiến dịch truyền thông công chính xác, đạt tỷ lệ thấu hiểu chính sách an sinh trên 85%.

Nhóm 3: Giảng viên, học viên cao học và sinh viên các chuyên ngành Báo chí học, Truyền thông đa phương tiện và Xã hội học. Luận văn đóng vai trò là tài liệu tham khảo khoa học bài bản về việc ứng dụng Lý thuyết Thiết lập chương trình nghị sự và phương pháp khảo sát trường hợp đa địa bàn.

Nhóm 4: Các tổ chức phi chính phủ, các quỹ bảo trợ xã hội và hội đồng đồng đẳng thiện nguyện. Tài liệu hỗ trợ các tổ chức này thiết kế chiến dịch vận động gây quỹ nhân văn, minh bạch, tránh gây tổn thương cho đối tượng thụ hưởng và thúc đẩy hòa nhập xã hội bền vững.

Câu hỏi thường gặp

Vì sao truyền hình địa phương cần chuyển đổi từ thông điệp từ thiện sang thông điệp quyền con người? Thông điệp từ thiện thuần túy chỉ đáp ứng cứu trợ tức thời và vô tình tạo tâm lý mặc cảm, an phận cho hơn 6,2 triệu người khuyết tật. Chuyển sang mô hình quyền con người giúp nâng cao nhận thức, mở rộng cơ hội tiếp cận 50% việc làm còn thiếu và khẳng định vị thế công dân bình đẳng theo Hiến pháp.

Lý thuyết Thiết lập chương trình nghị sự hỗ trợ truyền thông về người yếu thế như thế nào? Lý thuyết giúp cơ quan truyền thông chủ động sắp xếp các chủ đề an sinh xã hội vào khung giờ vàng, gia tăng tần suất phát sóng từ 2 lên 4 số mỗi tuần. Việc lặp lại thông điệp nhân văn giúp xóa bỏ rào cản kỳ thị đối với 3.546 ca nhiễm HIV mới hàng năm và thúc đẩy cộng đồng chung tay hành động.

Rào cản lớn nhất khi truyền thông cho đồng bào dân tộc thiểu số vùng cao là gì? Khảo sát tại Bắc Kạn cho thấy rào cản lớn nhất là bất đồng ngôn ngữ và điều kiện giao thông cách trở. Để giải quyết, đài địa phương cần sản xuất chương trình song ngữ tiếng dân tộc và lồng ghép kiến thức canh tác nông nghiệp trực quan, nâng tỷ lệ tiếp thu kiến thức của bà con lên trên 75%.

Biên tập viên cần làm gì để tránh khai thác hình ảnh thương cảm quá mức trên sóng truyền hình? Biên tập viên cần cắt giảm 40% các cảnh quay bi kịch hóa hoàn cảnh khó khăn và tập trung 60% thời lượng vào nghị lực, kỹ năng tự lập của nhân vật. Điển hình như chương trình Trái tim nhân ái tại Vĩnh Long đã tôn vinh ý chí vươn lên, giúp nhân vật nhận được sự tôn trọng thực chất.

Xã hội hóa chương trình truyền hình có làm suy giảm tính định hướng chính trị của đài địa phương không? Thực tế chứng minh xã hội hóa đúng quy chuẩn giúp tăng ngân sách sản xuất từ 30 triệu lên trên 60 triệu đồng mỗi tập mà vẫn giữ vững tôn chỉ tôn chỉ mục đích. Quy trình duyệt sóng chặt chẽ đảm bảo 100% tác phẩm vừa thu hút tài trợ vừa tuyên truyền chính xác đường lối, chính sách an sinh của Đảng và Nhà nước.

Kết luận

  • Hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về vai trò của truyền hình địa phương và cấu trúc 5 nhóm thông điệp dành cho người yếu thế.
  • Đánh giá thực chứng 120 chương trình phát sóng tại ba đài truyền hình tiêu biểu đại diện cho ba vùng miền văn hóa đặc thù.
  • Chỉ rõ thực trạng lệch pha khi thông điệp từ thiện chiếm tới 58,5% trong khi thông điệp trao quyền chủ thể chỉ chiếm 8,3%.
  • Đề xuất 4 nhóm giải pháp mang tính chiến lược và khả thi nhằm tái cấu trúc nội dung, đổi mới hình thức và nâng cao chuẩn mực đạo đức báo chí.
  • Định hình lộ trình nghiên cứu tiếp nối về ứng dụng truyền thông đa nền tảng số phục vụ nhóm yếu thế trong giai đoạn 2020 đến 2025.

Đóng góp lớn nhất của luận văn là thúc đẩy bước chuyển tư duy từ trợ cấp thụ động sang trao quyền tự chủ cho hơn 15 triệu người thuộc nhóm thiệt thòi và các hộ gia đình liên quan. Trong giai đoạn 6 đến 12 tháng tới, các cơ quan báo chí địa phương cần khẩn trương áp dụng bộ giải pháp nhằm xây dựng một không gian truyền thông công bằng, văn minh và thấm đẫm giá trị nhân văn.