Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VE THONG DIEP TRONG CÁC TÁC PHAM BAO CHÍ VIET VE AN TOÀN GIAO THONG 1. Hệ thống khái niệm liên quan đến dé tai 1. Thông điệp Thông điệp là một hệ thống các ký hiệu hàm chứa nội dung thông tin cụ thể.
Hệ thống các ký hiệu này được quy ước giữa đầu phát và đầu nhận, nói cách khác ký hiệu này phải được giải mã bởi đầu nhận. Hệ thống các ký hiệu ấy có thê là do lời nói (tiếng động và âm nhạc), chữ viết, đường nét, màu sắc, cử chỉ và thái độ, hành động. Trong tiếng Anh và tiếng Pháp, người ta dùng chữ “Message” dé chỉ “thông điệp”. Nó cũng có thé hiểu là lời phán truyền, truyền đạt, truyền thông.
Trong tiếng Trung, chữ “thông điệp” (Tongdie) cũng mang nội dung tương tự. Theo Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học (do Hoàng Phê chủ biên), “Thong điệp” được định nghĩa là: 7: Công văn ngoại giao quan trong do nước này gửi cho một hay nhiều nước khác; 2: Báo cáo do tổng thống gửi cho quốc hội dé trình bày tình hình và chính sách; 3: Bức thư công khai gửi cho mọi người hoặc một nhóm người nhất định (thường dùng với nghĩa bóng) [37, tr. Theo cuốn sách Cơ sở lý luận báo chí truyền thông của Dương Xuân Sơn, Dinh Văn Hường, Trần Quang định nghĩa: “Thông điệp là tin tức được thé hiện bằng tín hiệu, ký hiệu, mã số, bằng mực trên giấy, sóng trên không trung hoặc bằng bất cứ tin hiệu nào mà người ta có thể hiểu được và được trình bày ra một cách có ý nghĩa. Điều quan trọng là thông điệp phải được diễn tả bằng thứ ngôn ngữ mà Hgười cung cấp và người tiếp nhận hiểu được.
Có thể là ngôn ngữ giao tiếp trong cuộc sống hằng ngày, ngôn ngữ kỹ thuật trong khoa học, hay ngôn ngữ văn học trong nghệ thuật” [47, tr. Trong cuốn Truyén thông lý thuyết và kỹ năng cơ bản, tác giả Nguyễn Văn Dững (chủ biên), Đỗ Thị Thu Hang quan niệm rang: “Théng điệp là nội dung thông tin được trao đồi từ nguôn phát đến đối tượng tiếp nhận. Thông điệp chính là những tâm tư, tình cảm, mong muốn, đòi hỏi, ý kiến, hiểu biết, kinh nghiệm sống, tri thức khoa học — kỹ thuật,. được mã hoá theo một hệ thống ký hiệu nào đó.
Hệ thong này phải được cả bên phát và bên nhận cùng chấp nhận và có chung cách viết - tức là 19 có khả năng giải mã. Tiếng nói, chữ viết, hệ thống biển báo, hình ảnh, cử chỉ biểu đạt cua con người được sứ dụng dé chuyén tải thông điệp” [8, tr. Trong báo chi, “thông điệp” mang ý nghĩa rộng lớn, có thé bằng chữ viết, hình ảnh, lời nói, kí tự,. Nhưng điều quan trọng là tùy đối tượng hướng tới, “thông điệp” phải được diễn ta bằng thứ ngôn ngữ dễ hiểu, dé nhớ và dé làm theo.
Các thông điệp của truyền thông đại chúng mang tính chất công cộng, nghĩa là bất kỳ ai được tiếp cận thì sẽ biết đến thông điệp đó. Theo tác giả luận văn, thong điệp” là nội dung cơ bản về một vấn dé nào đó được trình bày trong một hình thức ngắn gọn, súc tích, mà người truyén muốn chuyển đến người nhận nhằm thu hút sự quan tâm, ung hộ và hành động cua ho dé dat duoc mục tiêu mong muon của những người, cơ quan, to chức thiết kế thông điệp. Thông điệp được xây dựng trên cơ sở nghiên cứu tình hình thực tế - thiết kế sản xuất — thử nghiệm và phát hành rộng rãi trong xã hội băng mọi phương tiện dé đạt được mục đích mong muốn của các nhà thiết kế đối với quảng đại quần chúng. Thông điệp phải đáp ứng nhu cầu của người nhận.
Đây là yêu cầu quan trọng đối với sự thành công của một thông điệp. Và về phía mình, người nhận sẽ có đáp ứng như nguồn phát mong muốn nếu nguồn phát đảm bảo được rằng, người nhận được lĩnh hội đúng thông tin nguồn phát muốn truyền. Quá trình xây dựng thông điệp bao gồm hai giai đoạn khác nhau nhưng b6 sung cho nhau. Giai đoạn thứ nhất đòi hỏi nguồn phát phải xác định đúng cái muốn truyền đạt đề tạo ra đáp ứng thích hợp nơi người nhận.
Đây là ý tưởng thông điệp chủ định. Trong giai đoạn thứ hai cần phải xác định hình thức tốt nhất dé truyền dat thông điệp chủ định. Hình thức này được gọi là thông điệp mã hóa. Báo chí và Tác phẩm báo chí 1.
Báo chí Theo một số nhà nghiên cứu trong và ngoài nước, báo chí là hiện tượng đa nghĩa, gan bó chặt chẽ với các thành tô của kiến trúc thượng tầng; là một loại hình hoạt động chính trị - xã hội, với tính chất nghiệp vụ sáng tạo, có những tác động to lớn đối với xã hội loài người được thé hiện trên nhiều phương diện: kinh tế, chính trị, văn hóa, lối sống. " Theo tác giả Ta Ngoc Tan trong cuốn Cơ sở lý luận báo chí định nghĩa: “báo chí là hiện tượng da nghĩa, gan bó chặt chẽ với các thành to của kiến trúc thượng tang, báo chí là một loại hình hoạt động chính trị - xã hội, voi tinh chất nghề 20 nghiệp sáng tạo. Hoạt động báo chí bao hàm trong đó sự vận hành phức tạp của một loại nghề nghiệp, quan hệ với nhau bằng quy luật vận động nội tại của cả hệ thống và bằng hiệu quả xã hội có tính mục dich” [52, tr. Theo tác giả Nguyễn Văn Dững trong cuốn Cơ sở lý luận báo chí, với cách tiếp cận báo chí từ quan điểm hệ thống, đưa ra khái niệm: “Báo chí là hoạt động thông tin - giao tiếp xã hội trên quy mô rộng lớn nhất, là công cụ và phương thức kết noi xã hội hữu hiệu nhất, là công cụ và phương thức can thiệp xã hội hiệu quả nhất trong mối quan hệ với công chúng và du luận xã hội, với nhân dân và các nhóm lợi ích, với các nước trong khu vực và quốc tế” [10, tr.
Tác giả Dương Xuân Sơn trong cuốn Cơ sở lý luận báo chí truyền thông đã giải thích khái niệm báo chí theo triết học cổ Hy Lạp: “Chữ báo chí xuất phát từ chữ “information” có nghĩa là thông tin, báo tin và được hiểu như việc tạo ra hình thái giúp cho sự hiểu biết của con người về thé giới xung quanh dang ton tại bằng việc lấy hiện thực khách quan dé phản ánh một cách liên tục xuyên suốt trong quan hệ chặt chẽ giữa nhà báo - tác phẩm — công chúng” [4¡, tr. Cũng theo tác giả cuốn sách này: “Báo chí là bao gồm tất cả các tổ chức thông tin thuật lại những hình thái khác nhau (xuất ban, radio, vô tuyến, truyền hình.) và ở những cấp độ khác nhau từ Trung ương đến địa phương, với ý nghĩa là tất cả các phương tiện thông tin dai chúng” [47, tr. Một số quan điểm tiếp cận khái niệm báo chí gắn liền với truyền thông. Ở cách hiểu này trong cuốn Tir điển Tiếng Việt của Trung tâm Từ điển học định nghĩa báo chí truyền thông hiểu theo nghĩa chung nhất và trừu tượng nhất là “quá trình truyền dữ kiện giữa các đơn vị chức năng” [64, tr.
Theo tác giả Trần Hữu Quang trong cuốn Xa hội học truyền thông đại chúng: “Báo chí truyền thông là một quá trình truyền đạt, tiếp nhận và trao đổi thông tin nhằm thiết lập các mối quan hệ giữa con người với con người ”. Theo đó tác giả này định nghĩa “7z„yễn thông đại chúng là quá trình truyền đạt thông tin một cách rộng rãi đến mọi người trong xã hội thông qua các phương tiện truyền thông đại chúng như phát thanh, truyền hình” [41, tr. Nhìn chung, các tác giả trên, dù đứng trên quan điểm nào, đã có gang đưa ra những định nghĩa chung nhất về báo chí và tựu trung lại đều xem báo chí như một phương tiện diễn đạt, chia sẻ thông tin giữa các chủ thể khác nhau trong xã hội. Báo chí là một bộ phận của truyền thông đại chúng, nhưng là bộ phận chiếm vị trí trung 21 tâm, vai trò nền tang và có khả năng quyết định tính chất, khuynh hướng, chi phối năng lực và hiệu quả tác động của truyền thông đại chúng.
Do đó, trong nhiều trường hợp, có thé dùng báo chí dé chỉ truyền thông đại chúng: và ngược lại, nói đến truyền thông đại chúng, trước hết phải nói đến báo chí. Nói tóm lại, báo chí là những xuất bản phẩm định kỳ như nhật báo hay tạp chí, nhưng cũng dé chỉ các loại hình truyền thông khác nhau như truyền hình, đài phát thanh. Báo chí, dựa trên những điều tra, tìm hiểu để làm sáng tỏ đời sống xã hội, văn hóa. Đây chính là bộ máy chính quyền dé tìm hiểu thông tin, phổ biến và phân tích tin tức.
Đây là cơ quan ngôn luận, cung cấp thông tin và ý kiến về mọi van đề. Chính vì thế, báo chí thường được gọi là quyền lực thứ tư. Quyền lực này, nếu được nhân dân sử dụng đúng sẽ góp phần nói lên sự thật, góp phần nói lên nguyện vọng của người dân, qua đó, cải tiến bộ máy xã hội. Mặc dù có nhiều ý kiến khác nhau về định danh và khái niệm, nhưng dé tao sự thông nhất trong phạm vi giới han của dé tài cũng như khả năng của tác giả, luận văn sử dụng khái niệm báo chí được dẫn theo khái niệm Luật Báo chí năm 2016 do Quốc hội ban hành: “Báo chí là sản phẩm thông tin về các sự kiện, vấn đê trong đời sống xã hội thể hiện bằng chữ viết, hình ảnh, âm thanh, được sáng tạo, xuất bản định kỳ và phát hành, truyền dẫn tới đông đảo công chúng thông qua các loại hình báo in, báo nói, bao hình, bao điện tu’ [44].
Tác phẩm báo chí Thuật ngữ “Tác phẩm” là danh từ gọi chung cho mọi loại tác phẩm: văn học, mỹ thuật, âm nhạc, khoa học, báo chí, kiến trúc,. Từ điển Tiếng Việt có ghi: “Tác phẩm là một công trình do các nhà văn hóa - nghệ thuật, các nhà khoa hoc.tao ra”, [64, tr. Sự nghiệp của người làm báo cũng bắt đầu bằng một tác phẩm cụ thé. Có thé trong cuộc đời làm báo của mình, nhà báo đã và sẽ sáng tạo ra hàng ngàn tác phâm báo chí, trong đó có những tác phẩm để đời, ghi dấu ấn sâu sắc trong lòng công chúng.
Tuy nhiên, nếu bất ngờ đặt một câu hỏi: “Anh-chị định nghĩa như thế nào là một tác phẩm báo chí? Có phải mọi tác phẩm đăng tải trên một sản phẩm báo chí đêu là tác phẩm báo chí? ”, thi rất it nhà báo có được câu trả lời ngay lập tức.