Lý luận Mác-Lênin về thời kỳ quá độ lên CNXH và thực tiễn ở Việt Nam

Tìm hiểu về thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam: lý luận và thực tiễn. Phân tích sâu sắc quá trình, thành tựu, thách thức và định hướng phát triển.

Trường đại học

Đại học Duy Tân

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Tiểu Luận

2021

50
45
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng Quan Thời Kỳ Quá Độ Lên CNXH ở Việt Nam là Gì 55 ký tự

Chủ nghĩa Mác - Lênin là hệ thống lý luận khoa học và cách mạng. Nó cung cấp thế giới quan khoa học, quy luật vận động của tự nhiên, xã hội và tư duy. Đặc biệt, về mặt xã hội, chủ nghĩa Mác - Lênin chỉ ra quy luật vận động của lịch sử nhân loại và con đường tất yếu tới chủ nghĩa cộng sản. Thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là vấn đề thu hút sự quan tâm của các chính đảng và nhà nghiên cứu. Việt Nam đi lên CNXH là một tất yếu khách quan. Việc tìm hiểu và nâng cao nhận thức về con đường này có tầm quan trọng đặc biệt trong giai đoạn hiện nay. Trong thời đại ngày nay, mỗi quốc gia dân tộc đều có quyền lựa chọn con đường, sự phát triển cho chính mình sao cho phù hợp với xu thế chung của thời đại, với quy luật khách quan của lịch sử và nhu cầu, khát vọng của dân tộc. Do vậy, Việt Nam đi lên CNXH là một tất yếu khách quan hoàn toàn phù hợp với xu thế chung đó.

1.1. Khái Niệm Quá Độ Lên CNXH theo Chủ Nghĩa Mác Lênin

Theo lý luận Mác-Lênin, để tiến từ một phương thức sản xuất thấp lên cao hơn, cần trải qua thời kỳ quá độ. Mác khái quát: “Thời kỳ quá độ là thời kỳ cải biến cách mạng không triệt để và toàn diện từ phương thức sản xuất này sang phương thức khác...”. Quá độ lên CNXH là sự chuyển tiếp quá độ bằng cách phủ định một trật tự xã hội cũ sang một trật tự xã hội mới với phương thức sản xuất mới. Theo di sản lý luận kinh điển Macxit thì quá độ lên CNXH là sự phát triển trực tiếp từ những luận chứng khoa học về tính lịch sử của CNXH về vai trò và sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân. Quá độ lên CNXH là sự chuyển tiếp quá độ bằng Các để phủ định một trật tự của xã hội cũ sang một trật tự xã hội mới với thức sản xuất mới, quan hệ sản xuất và chế độ sỡ hữu mới mang tính hội chủ nghĩa, với Nhà nước kiểu mới mà chủ thể quyền lực là giai cấp công nhân và nhân dân lao động.

1.2. Điều Kiện Ra Đời của Chủ Nghĩa Xã Hội Theo Mác Lênin

C.Mác phân tích, tìm ra qui luật vận động của hình thái kinh tế - xã hội tư bản chủ nghĩa và dự báo về sự ra đời của hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa. V.I.Lênin cho rằng chủ nghĩa cộng sản hình thành từ chủ nghĩa tư bản, phát triển lên từ chủ nghĩa tư bản là kết quả tác động của giai cấp vô sản. Điều kiện kinh tế: Các nhà sáng lập chủ nghĩa xã hội khoa học đã thừa nhận vai trò to lớn của chủ nghĩa tư bản khi khẳng định: sự ra đời của chủ nghĩa tư bản là một giai đoạn mới trong lịch sử phát triển mới của nhân loại. Điều kiện chính trị - xã hội: Cuộc đấu tranh giữa giai cấp công nhân và giai cấp tư sản xuất hiện ngay từ đầu và ngày càng trở nên gay gắt và có tính chính trị rõ rét. Ăngghen chỉ rõ: “Từ chỗ là những hình thức phát triển của các lực lượng sản xuất, những quan hệ sản xuất ấy trở thành những xiềng xích của các lực lượng sản xuất. Khi đó bắt đầu thời đại một cuộc cách mạng”.

II. Tại Sao Thời Kỳ Quá Độ Lên CNXH là Tất Yếu Khách Quan 59 ký tự

Học thuyết hình thái kinh tế - xã hội của chủ nghĩa Mác Lê nin đã chỉ rõ: lịch sử xã hội đã trải qua 5 hình thái kinh tế- xã hội. Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội tất yếu phải trải qua thời kỳ quá độ chính trị. Mác khẳng định: “Giữa xã hội tư bản chủ nghĩa và xã hội cộng sản chủ nghĩa là một thời kỳ cải biến cách mạng...”. Lênin khẳng định: “Về lý luận, không thể nghi ngờ gì được rằng giữa chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa cộng sản, có một thời kỳ quá độ nhất định”.

2.1. Sự Khác Biệt Giữa Các Loại Quá Độ Lên CNXH

Các nhà sáng lập chủ nghĩa xã hội khoa học phân biệt hai loại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa cộng sản: 1) Quá độ trực tiếp từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa cộng sản đối với những nước đã trải qua chủ nghĩa tư bản phát triển. 2) Quá độ gián tiếp từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa cộng sản đối với những nước chưa trải qua chủ nghĩa tư bản phát triển. Xuất phát từ quan điểm cho rằng: chủ nghĩa cộng sản không phải là một trạng thái cần sáng tạo ra, mà là kết quả của phong trào hiện thực. C.Ăngghen khẳng định rằng, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản là một quá trình biện chứng, lâu dài, gồm nhiều nấc thang quá độ và ở mỗi nấc thang quá độ ấy có một kiểu quan hệ sản xuất đặc trưng với một hình thức nhà nước thích hợp.

2.2. Tính Tất Yếu Của Quá Độ Lên CNXH ở Các Nước Lạc Hậu

Các nước lạc hậu với sự giúp đỡ của giai cấp vô sản đã chiến thắng có thể rút ngắn được quá trình phát triển. Mác chỉ rõ: “Nước Nga. có thể không cần trải qua đau khổ của chế độ (chế độ tư bản chủ nghĩa - TG) mà vẫn chiếm đoạt được mọi thành quả của chế độ ấy. Vận dụng và phát triển quan điểm của C.Ăngghen trong điều kiện mới, sau cách mạng tháng Mười, V.I.Lênin khẳng định: “Với sự giúp đỡ của giai cấp vô sản các nước tiên tiến, các nước lạc hậu có thể tiến tới chế độ xô - viết, và qua những giai đoạn phát triển nhất định, tiến tới chủ nghĩa cộng sản không phải trải qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa. Trong thời đại ngày nay, các nước lạc hậu, sau khi giành được chính quyền, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản có thể tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội chủ nghĩa bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa.

III. Đặc Điểm và Thực Chất của Thời Kỳ Quá Độ ở Việt Nam 54 ký tự

Thực chất của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là thời kỳ cải biến cách mạng từ xã hội tiền tư bản chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa sáng xã hội xã hội chủ nghĩa. Xã hội của thời kỳ quá độ là xã hội có sự đan xen của nhiều tàn dư về mọi phương diện kinh tế, đạo đức, tinh thần của chủ nghĩa tư bản và những yếu tố mới mang tính chất xã hội chủ nghĩa của chủ nghĩa xã hội mới phát sinh chưa phải là chủ nghĩa xã hội đã phát triển trên cơ sở của chính nó. Về nội dung, thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là thời kỳ cải tạo cách mạng sâu sắc, triệt để xã hội tư bản chủ nghĩa trên tất cả các lĩnh vực, kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, xây dựng từng bước cơ sở vật chất – kỹ thuật và đời sống tinh thần của chủ nghĩa xã hội.

3.1. Đặc Điểm Kinh Tế Trong Thời Kỳ Quá Độ Lên CNXH

Về kinh tế: Thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội, về phương diện kinh tế, tất yếu tồn tại nền kinh tế nhiều thành phần, trong đó có thành phần đối lập. V.Lênin cho rằng: “ Vậy thì danh từ quá độ có ý nghĩa là gì? Vận dụng vào kinh tế, có phải nó có ý nghĩa là trong chế độ hiện nay có những thành phần, những bộ phận, những mảnh của cả chủ nghĩa tư bản lẫn chủ nghĩa xã hội không?....”. V.Lênin cho rằng thời kỳ quá độ tồn tại 5 thành phần kinh tế: Kinh tế gia trưởng, kinh tế hàng hóa nhỏ; kinh tế tư bản; kinh tế tư bản nhà nước; kinh tế xã hội chủ nghĩa.

3.2. Đặc Điểm Chính Trị Văn Hóa Tư Tưởng và Xã Hội

Về chính trị: Thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội về phương diện chính trị, là việc thiết lập, tăng cường chuyên chính vô sản. Về tư tưởng - văn hóa: Thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội còn tồn tại nhiều tư tường khác nhau, chủ yếu là tư tưởng vô sản và tư tưởng tư sản. Về xã hội: Trong thời kỳ quá độ còn tồn tại nhiều giai cấp, tầng lớp và sự khác biệt giữa các giai cấp tầng lớp xã hội các giai cấp, tầng lớp vừa hợp tác, vừa đấu tranh với nhau. Trong xã hội của thời kỳ quá độ còn tồn tại sự khác biệt giữa nông thôn, thành thị, giữa lao động trí óc và lao động chân tay.

3.3. Quá Độ Lên CNXH ở VN Tính Tất Yếu Khách Quan

Thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là tất yếu khách quan đối với mọi quốc gia xây dựng chủ nghĩa xã hội, dù điểm xuất phát ở trình độ phát triển cao hay thấp. Việt Nam đã lựa chọn đi theo con đường CNXH, vì vậy thời kỳ quá độ là cần thiết và tất yếu để Việt Nam vươn tới mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng và văn minh. Quá độ lên xã hội xã hội chủ nghĩa là con đường đi phù hợp của nước ta.

IV. Giải Pháp Phương Hướng Xây Dựng CNXH ở Việt Nam Hiện Nay 60 ký tự

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời quá độ lên chủ nghĩa xã hội (1991) xác định 7 phương hướng cơ bản phản ánh con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Một là, xây dựng Nhà nước xã hội chủ nghĩa. Hai là, phát triển lực lượng sản xuất, công nghiệp hoá đất nước. Ba là, thiết lập từng bước quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa. Bốn là, tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa trên lĩnh vực tư tưởng và văn hoá. Năm là, thực hiện chính sách đại đoàn kết dân tộc. Sáu là, xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc. Bảy là, xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh.

4.1. Bổ Sung và Phát Triển Các Phương Hướng Xây Dựng CNXH

Trên cơ sở 7 phương hướng của Cương lĩnh 1991, tại Đại hội XI, trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung và phát triển năm 2011) đã bổ sung, phát triển 8 phương hướng: + Đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. + Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. + Xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. + Bảo đảm vững chắc quốc phòng và an ninh quốc gia. + Thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ. + Xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. + Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. + Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh.

4.2. Thành Tựu Về Kinh Tế trong Quá Trình Đổi Mới ở VN

30 năm thực hiện Cương lĩnh 1991 (bổ sung phát triển năm 2011) và 35 năm đổi mới: “đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện so với trước đổi mới...”. Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa từng bước được hình thành, phát triển; công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước được đẩy mạnh; kinh tế vĩ mô ổn định, tốc độ tăng trưởng kinh tế duy trì ở mức cao, chất lượng tăng trưởng được cải thiện, quy mô và tiềm lực kinh tế đất nước tăng lên Những thành tựu đã đạt được. Về kinh tế đối ngoại. Chúng ta đã tham gia vào các tổ chức khu vực cũng như trên thế giới gia nhập ASEAN năm 1995, gia nhập AFTA năm 1996, gia nhập APEC năm 1998, ký hiệp định thương mại Việt – Mĩ. Đến nay, quy mô nền kinh tế Việt Nam đạt 343 tỉ USD, trong tốp 40 nền kinh tế lớn của thế giới và đứng thứ 4 trong ASEAN.

V. Thách Thức Hạn Chế Trong Quá Trình Quá Độ Lên CNXH 56 ký tự

Trong quá trình quá độ lên CNXH ở Việt Nam vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế. Hệ thống quản lỷ kinh tế nước ta có trình độ, chuyên môn tương đối, luật pháp, chính sách chưa đồng bộ, nhất quán.Nhà nước chưa phát huy hết vai trò chủ đạo. Kinh tế tăng trưởng nhanh, hiệu quà thấp. Sức cạnh tranh lực quản lý doanh nghiệp yếu.

5.1. Hạn Chế Trong Quản Lý Kinh Tế và Cạnh Tranh

Hệ thống quản lỷ kinh tế nước ta có trình độ, chuyên môn tương đối, luật pháp, chính sách chưa đồng bộ, nhất quán và tác đông đa chiều thúc đẩy kinh tế phát triến mạnh mẽ. nâng cao hiệu quả. Các kế hoạch định hướng phát triển kinh tế quy hoạch, xây dựng, quản lý. sử dụng đất đai, tài nguyên thiên nhiên , thủ tục hành chính có nhiều tiến triển nhưng chậm chạp. Thường có sai sót trong sửa đối bổ sung. Về cạnh tranh yếu trình độ kĩ thuật lạc hậu. Sức cạnh tranh lực quản lý doanh nghiệp yếu, thiếu chuẩn bị để ứng phó hiệu quả với trình hội nhập diễn ngày sâu rộng.

5.2. Hạn Chế Về Quản Lý Nhà Nước

Nhà nước quản lý mật đời sống kinh tế, xã hội, nhìn chung bộ máy quản lý, hệ thống công cụ quản lý của Nhà nước vẫn còn hạn chế, thiếu sót. Với bộ máy quản lý: Bộ máy Nhà nước cồng kềnh, hiệu lực chưa cao. Bộ máy Nhà nước TW chưa hợp lý, nhiều quan chưa rõ chức nhiệm vụ, nhiều người chưa đại diện cho nhân dân, cho trí tuệ quan liêu. Việc đãi ngộ cho công chức Nhà nước chưa xứng đáng, tham nhũng, hối lộ - quốc nạn vẫn còn.

VI. Biện Pháp Giải Pháp Cho Thời Kỳ Quá Độ Lên CNXH ở VN 56 ký tự

Để khắc phục các hạn chế và tiếp tục tiến lên trên con đường xây dựng CNXH, cần có những giải pháp đồng bộ. Các giải pháp này bao gồm: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa; Phát triển kinh tế thị trường; Giữ vững chính trị; Hoàn thiện hệ thống pháp luật.

6.1. Giải Pháp về Công Nghiệp Hóa Hiện Đại Hóa Đất Nước

Xu hướng toàn cầu hoá tạo thời cơ, thách thức mới. Do đó phải tiến hành công nghiệp hoá, biện đại hoá để tạo sở vật chất kĩ thuật để chuyển dịch cấu, để sử dụng có hiệu nguồn lực khan hiếm của đât nước, tạo năng suất lao đông xã hội cao, thúc đẩy tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, bền vững. Muốn thực hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá cần phải có giải pháp để đẩy mạnh công nghiệp hoá, đại hoá đất nước. Trước hết, công nghiệp hoá, hiện đại hoả đòi hỏi nguồn vốn lớn, phải huy động vốn sử dụng vẫn có hiệu quả.

6.2. Giải Pháp về Phát Triển Kinh Tế Thị Trường

Để phát triển kinh tế thị trường thỉ việc đầu tiên là phải phát triển thành phần kinh tế thực quán chính sách kinh tế nhiều thành phần. Khi đó, doanh nghiệp, công dân đầu tư kinh doanh theo hình thức pháp luật quy định bảo vệ. Tiếp tục phát triển kinh tế Nhà nước đề thực tốt vai trò chủ đạo kinh tế, đối che quản lý, phân biệt quyền chủ sở hữu quyền kinh doanh doanh nghiệp. Chuyển doanh nghiệp Nhà nước kinh doanh sang hoạt đông theo chế công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cô phần

6.3. Giữ Vững Chính Trị Hoàn Thiện Hệ Thống Pháp Luật

Đề giữ vững trị Đảng Nhà nước phải quan tâm nhiều đến đời sống hàng ngày nhân dân, phải chú ý đến kẻ sống lưu vong trong và ngoài nước nhằm gây dựng tổ chức chống phá cách mạng nước ta, vi dụ tôn giáo, Đảng phải thường xuyên trì khối liên minh công nông – trí thức, phải với tổ chức tri thức, đoàn hội cựu chiến binh, hội phụ nữ, đoàn niên, mặt trận tổ quốc thường xuyên tổ chức hoạt động văn hoá nhằm tuyên truyền đường lối sách của Đảng, phải tạo lòng tin ngày sâu sắc dân vào Đảng. Nhà nước pháp quyền đòi hói pháp luật phải thực nghiêm chỉnh thống nhất: “Sống làm việc theo hiển pháp pháp luật' phải trở thành đạo đức hàng đầu. thành nếp sống tốt đẹp người. Do đó, đế hệ thống pháp luật hoàn chỉnh với việc sửa đổi, bổ sung cố vấn pháp luật, nhân dân phải nghiêm túc chấp hành pháp luật.

20/09/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG I – CỞ SỞ LÝ LUẬN CHUNG 1.1 Quan điểm của chủ nghĩa Mac Lê-nin về thời kì quá độ lên CNXH 1.1 Khái niệm quá độ lên CNXH và điều kiện ra đời của CNXH - Muốn hiểu được rõ thế nào là quá độ lên chủ nghĩa xã hội t ta phải hiểu được thế nào là thời kỳ quá độ. Theo lý luận Mác-Lênin đ định muốn tiến từ một phương thức sản xuất thấp lên một phương t xuất cao hơn cần bắt buộc phải trải qua thời kì quá độ. Mác đã khái quá lý luận và chỉ rõ: “Thời kì quá độ là thời kì cài biến Cách mạng không triệt để và toàn diện từ phương thức sản xuất này sang phương thức khác. Trong thời kì quá độ xét về mặt kinh tế, chình trị, xã hội đó là mộ có nhiều mâu thuẫn đặt ra đòi hỏi lý luện phải giải quyết triệt để”.

Từ khái niệm về thời kì quá độ ở trên ta có cơ sở để tìm hiểu kì quá độ lên CNXH. Cũng trong di sản lý luận kinh điển Macxit thì qu CNXH là sự phát triển trực tiếp từ những luận chứng khoa học về tính lịch sử của CNXH về vai trò và sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhâ lý luận này thì: “Quá độ lên CNXH là sự chuyển tiếp quá độ bằng Các để phủ định một trật tự của xã hội cũ sang một trật tự xã hội mới với thức sản xuất mới, quan hệ sản xuất và chế độ sỡ hữu mới mang tính hội chủ nghĩa, với Nhà nước kiểu mới mà chủ thể quyền lực là giai cấp công nhân và nhân dân lao động”. - Điều kiện ra đời chủ nghĩa xã hội: Bằng lý luận hình thái kinh tế - xã hội, C.Mác đã đi sâu phân tích, tìm ra qui luật vận động của hình thái kinh tế - xã hội tư bản chủ nghĩa, từ đó cho phép ông dự báo khoa học về sự ra đời và tương lai của hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa. VI Lênin cho rằng: C.Mác xuất phát từ chỗ là chủ nghĩa cộng sản hình thành từ chủ nghĩa tư bản, phát triển lên từ chủ nghĩa tư bản là kết quả tác động của một lực lượng xã hội do chủ nghĩa tư bản sinh ra - giai cấp vô sản, giai cấp công nhân hiện đại.

Sự ra đời của chủ nghĩa xã hội theo chủ nghĩa Mác - Lênin trên cơ sở hai điều kiện chủ yếu sau đây: + Điều kiện kinh tế: Các nhà sáng lập chủ nghĩa xã hội khoa học đã thừa nhận vai trò to lớn của chủ nghĩa tư bản khi khẳng định: sự ra đời của chủ nghĩa tư bản là một giai đoạn mới trong lịch sử phát triển mới của nhân loại. Nhờ những bước tiến to lớn của lực lượng sản xuất, biểu hiện tập trung nhất là sự ra đời của công nghiệp cơ khí (Cách mạng công nghiệp lần thứ 2), chủ nghĩa tư bản đã tạo ra bước phát triển vượt bậc của lực lượng sản xuất. Trong vòng chưa đầy một thế kỷ, chủ nghĩa tư bản đã tạo ra được một lực lượng sản xuất nhiều hơn và đồ sộ hơn lực lượng sản xuất mà nhân loại tạo ra đến lúc đó”. Tuy nhiên, các ông cũng chỉ ra rằng, trong xã hội tư bản chủ nghĩa, lực lượng sản xuất càng được cơ khi hóa, hiện đại hóa càng mang tính xã hội hóa cao, thì càng mẫu thuẫn với quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa dựa trên chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa.

Quan hệ sản xuất từ chỗ đóng vai trò mở đường cho lực lượng sản xuất phát triển, thì ngày càng trở nên lỗi thời, xiềng xích của lực lượng sản xuất. + Điều kiện chính trị - xã hội: Mâu thuẫn giữa tính chất xã hội hóa của lực lượng sản xuất với chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa đối với tư liệu sản xuất trở thành mâu thuẫn kinh tế cơ bản của chủ nghĩa tư bản, biểu hiện về mặt xã hội là mâu thuẫn giữa giai cấp công nhân hiện đại với giai cấp tư sản lỗi thời. Cuộc đấu tranh giữa giai cấp công nhân và giai cấp tư sản xuất hiện ngay từ đầu và ngày càng trở nên gay gắt và có tính chính trị rõ rét. Ăngghen chỉ rõ: “Từ chỗ là những hình thức phát triển của các lực lượng sản xuất, những quan hệ sản xuất ấy trở thành những xiềng xích của các lực lượng sản xuất.

Khi đó bắt đầu thời đại một cuộc cách mạng”. Hơn nữa, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền đại công nghiệp cơ khí là sự trưởng thành vượt bậc cả về số lượng và chất lượng của giai cấp công nhân, con để của nền đại công nghiệp. Chính sự phát triển về lực lượng sản xuất và sự trưởng thành của giai cấp công nhân là tiền đề kinh tế- xã hội dẫn tới sự sụp đổ không tránh khỏi của chủ nghĩa tư bản. Diễn đạt tư tưởng đó, C.Ăngghen cho rằng, giai cấp tư sản không chỉ tạo vũ khí để giết mình mà còn tạo ra những người sử dụng vũ khí đó, những công nhân hiện đại, những người vô sản.

Sự trưởng thành vượt bậc và thực sự của giai cấp công nhận được đánh dấu bằng sự ra đời của Đảng cộng sản, đội tiền phong của giai cấp công nhân, trực tiếp lãnh đạo cuộc đấu tranh chính trị của giai cấp công nhân chống giai cấp tư sản. Sự phát triển của lực lượng sản xuất và sự trưởng thành thực sự của giai cấp công nhân là tiền đề, điều kiện cho sự ra đời của hình thái kinh tế- xã hội cộng sản chủ nghĩa. Tuy nhiên, do khác về bản chất với tất cả các hình thái kinh tế - xã hội trước đó, nên hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa không tự nhiên ra đời, trái lại, nó chỉ được hình thành thông qua cách mạng vô sản dưới sự lãnh đạo của đảng của giai cấp công nhân - Đảng Cộng sản, thực hiện bước quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản. Cách mạng vô sản là cuộc cách mạng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, trên thực tế được thực hiện bằng con đường bạo lực cách mạng nhằm lật đổ chế độ tư bản chủ nghĩa, thiết lập nhà nước chuyên chính vô sản, thực hiện sự nghiệp cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới, xã hội xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa.

Tuy nhiên, cách mạng vô sản, về mặt lý thuyết cũng có thể được tiến hành bằng con đường hòa bình, nhưng vô cùng hiếm, quí và trên thực tế chưa xảy ra. Do tính sâu sắc và triệt để của nó, cách mạng vô sản chỉ có thể thành công, hình thái kinh tế- xã hội cộng sản chủ nghĩa chỉ có thể được thiết lập và phát triển trên cơ sở của chính nó, một khi tính tích cực chính trị của giai cấp công nhân được khơi dậy và phát huy trong liên minh với các giai cấp và tầng lớp những người lao động dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản.2 Tính tất yếu của thời kỳ quá độ lên CNXH Học thuyết hình thái kinh tế - xã hội của chủ nghĩa Mác Lê nin đã chỉ rõ: lich sử xã hội đã trải qua 5 hình thái kinh tế- xã hội: Cộng sản nguyên thủy, chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư bản chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa. So với các hình thái kinh tế xã hội đã xuất hiện trong lịch sử, hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa có sự khác biệt về chất, trong đó không có giai cấp đối kháng, con người từng bước trở thành người tự do. Bởi vậy, theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội tất yếu phải trải qua thời kỳ quá độ chính trị.

Mác khẳng định: “Giữa xã hội tư bản chủ nghĩa và xã hội cộng sản chủ nghĩa là một thời kỳ cải biến cách mạng từ xã hội này sang xã hội kia. Thích ứng với thời kỳ ấy là một thời kỳ quá độ chính trị, và nhà nước của thời kỳ ấy không thể là cái gì khác hơn là nền chuyên chính cách mạng của giai cấp vô sản”.Lênin trong điều kiện nước Nga Xô-viết cũng khẳng định: “Về lý luận, không thể nghi ngờ gì được rằng giữa chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa cộng sản, có một thời kỳ quá độ nhất định”. Mong muốn có ngay một chế độ xã hội xã hội chủ nghĩa tốt đẹp để thay thế xã hội tư bản chủ nghĩa bất công, tàn ác là những điều tốt đẹp, là khát vọng chính đáng; song theo các nhà kinh điển, điều mong ước ấy không thể có cánh với phép màu “cầu được ước thấy”; giai cấp vô sản cần phải có thời gian để cải tạo xã hội cũ do giai cấp bóc lột dựng nên và xây dựng trên nền móng ấy lâu dài của chủ nghĩa xã hội. Tổng kết kinh nghiệm đấu tranh cách mạng của Công xã Pari (1871), C.Ăngghen khẳng định rằng, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản là một quá trình biện chứng, lâu dài, gồm nhiều nấc thang quá độ và ở mỗi nấc thang quá độ ấy có một kiểu quan hệ sản xuất đặc trưng với một hình thức nhà nước thích hợp.

Tính tất yếu của thời kỳ quá độ được qui định một cách cụ thể bởi những đặc điểm văn hóa, những đặc thù của xuất phát điểm của các nước, các chế độ xã hội khác nhau khi tiến lên chủ nghĩa xã hội. Chính đặc điểm văn hóa và đặc thù của điểm xuất phát khi bước vào thời kỳ quá độ sẽ qui định nội dung, đặc điểm, mục tiêu, nhiệm vụ và độ dài của thời kỳ quá độ của mỗi quốc gia. Điều này cũng có nghĩa, mỗi quốc gia sẽ có thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội đặc sắc riêng của mình. Khẳng định tính tất yếu của thời kỳ quá độ, đồng thời các nhà sáng lập chủ nghĩa xa hội khoa học cũng phân biệt có hai loại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa cộng sản: 1) Quá độ trực tiếp từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa cộng sản đối với những nước đã trải qua chủ nghĩa tư bản phát triển.

Cho đến nay thời kỳ quá độ trực tiếp lên chủ nghĩa cộng sản từ chủ nghĩa tư bản phát triển chưa từng diễn ra; 2) Quá độ gián tiếp từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa cộng sản đối với những nước chưa trải qua chủ nghĩa tư bản phát triển.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ