Chương 1. Một số van dé lý luận về thời điểm có hiệu lực của hợp đồng Chương 2. Thực trạng quy định của pháp luật Việt Nam về thời điểm có hiệu lực của hợp đồng Chương 3. Thực tiễn thực hiện và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về thời điểm có hiệu lực của hợp đồng.
MOT SO VAN DE LÝ LUẬN VE THỜI DIEM CÓ HIỆU LỰC CÚA HỢP ĐÒNG 1. Khái niệm về thời điểm có hiệu lực của hợp đồng Hợp đồng đóng vai trò quan trọng trong việc thiết lập và điều chỉnh các mối quan hệ trong xã hội, đồng thời là công cụ thiết yếu giúp con người thực hiện các giao địch trên mọi lĩnh vực của đời sống. Thật vậy, hợp đồng không chỉ là một phương tiện pháp lý mà còn là một nền tảng của các quan hệ kinh tế, thương mại, lao động và dan sự, tạo ra sự ràng buộc pháp lý giữa các chủ thể và hạn chế rủi ro trong giao dich. Nếu không có hợp đồng, các giao dich các giao dịch sẽ trở nên bap bênh, thiếu sự đảm bảo về quyền lợi và nghĩa vụ của các bên.
Trong quá trình phát triển của pháp luật nước ta, ở mỗi thời kỳ hoặc tùy từng ngữ cảnh có những thuật ngữ khác nhau để nói về hợp đồng như: “théa thuận”, “khế ước”, “giao ước”. Điều này phan ánh sự phát triển của pháp luật cũng như nhu cầu chuẩn hóa về thuật ngữ pháp lý. Sự xuất hiện của BLDS năm 1995 và BLDS năm 2005 đã đặt nền móng cho việc định nghĩa về “hop dong dan sự”. Theo đó, tại Điều 394 BLDS năm 1995 và Điều 388 BLDS năm 2005 định nghĩa : “Hợp dong dân sự là sự thỏa thuận sự thỏa thuận giữa các bên về việc xdc lập, thay đổi hoặc chấm ditt quyên, nghĩa vụ dân su’.
Dễ thay, cả hai bộ luật này đều sử dụng thuật ngữ “hợp đồng dân sự” thay vì chỉ đơn thuần là “hop đông”. Điều này dẫn đến một số bat cập trong quá trình áp dụng vì nó có thé gây ra hiểu nhằm rằng chỉ có hợp đồng dân sự mới thuộc phạm vi điều chỉnh của luật, trong khi thực tẾ, hợp đồng xuất hiện trong nhiều lĩnh vực khác nhau như thương mại, lao động, đầu tư,.BLDS năm 2015 có một bước tiễn quan trọng khi thay thế thuật ngữ “hop dong dan sự” bằng thuật ngữ “hop dong” tại Điều 385: “Hợp dong là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm ditt quyên, nghĩa vụ dân sự.”? Sự thay đối này mang tính khái quát hon và có ý nghĩa pháp lý sâu sắc. Khái niệm “hop đông” không chỉ giới han trong lĩnh vực dân sự mà mở rộng ra toàn bộ hệ thống pháp luật, bao gồm hợp đồng thương mại, lao động, hành chính,.trong đó tất cả các thỏa thuận giữa hai hay nhiều bên về việc xác lập, thay đổi hoặc cham dứt các quyền và nghĩa vụ giữa họ đều thuộc phạm vi điều chỉnh của luật hợp đồng. Việc này giúp loại bỏ sự phân biệt không cần thiết khi ding thuật ngữ “hop đồng dan sự”, tránh ' Điều 394 BLDS năm 1995, Điều 388 BLDS năm 2005 ˆ Điều 385 BLDS năm 2015 gây hiểu nhằm rang chỉ hợp đồng dan sự mới chịu điều chỉnh của pháp luật hợp đồng.
Đồng thời, sự điều chính này còn phản ánh xu hướng hội nhập với pháp luật quốc tế. Trong nhiều hệ thống pháp luật tiên tiền như pháp luật Anh- Mỹ (Common Law) hay pháp luật Châu Âu (Civil Law), hợp đồng được hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm tất cả các lĩnh vực mà không cần phải chia tách thành “hop đồng dan sự” hay “hợp đồng thương mại”. Việc thay đỗi thuật ngữ trong BLDS năm 2015 giúp hệ thống pháp luật Việt Nam tiệm cận hơn với chuẩn mực quốc tế. Hiểu theo nghia chung nhất, hợp đồng là sự thỏa thuận, theo đó một hoặc nhiều chủ thé ràng buộc chính mình với một hoặc nhiều chủ thé khác nhằm chuyên giao tài san, làm hoặc không làm một công việc nhất định.
Như vậy ban chất của hợp đồng là sự thỏa thuận và thống nhất ý chí giữa các bên, sự thỏa thuận này diễn ra vào giai đoạn trước khi các bên chính thức ký kết, tạo lập hợp đồng. Khi dé cập đến hợp đồng, không thé bỏ qua yếu tố hiệu lực pháp lý của hợp đồng. Hiệu lực của hợp đồng là thuộc tính cốt lõi, mang tính bán chất của hợp đồng, bởi lẽ khi thiết lập hợp đồng các bên luôn hướng tới việc tạo lập sự ràng buộc với nhau về quyền và nghĩa vụ của mỗi bên. Tuy nhiên dé hợp đồng có giá trị pháp lý và thực sự làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên thì trước tiên hợp đồng phải có hiệu lực pháp luật.
Một hợp đồng không thỏa mãn các điều kiện có hiệu lực sẽ bi coi là vô hiệu và không làm phát sinh bất kỳ quyền hay nghĩa vụ nào. Việc đưa ra một định nghĩa toàn diện và chính xác về hiệu lực hợp đồng là một vấn đề phức tạp và cần được phân tích một cách rõ ràng. Trong BLDS của Việt Nam có quy định về hiệu lực của hợp đồng nhưng không đưa ra một định nghĩa chính thức về khái niệm “hiệu lực của hợp đông”, mà chỉ xác định thời điểm phát sinh hiệu lực. Theo quy định tại điều 405 BLDS năm 2005, hợp đồng được giao kết hợp pháp có hiệu lực từ thời điểm giao kết, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.
Quy định này chủ yếu xác định thời điểm phát sinh hiệu lực của hợp đồng nhưng chưa làm rõ bản chất pháp lý hiệu lực của hợp đồng, cũng như các điều kiện cần thiết để một hợp đồng được coi là có giá trị ràng buộc về mặt pháp lý. BLDS năm 2015 ra đời tiếp tục quy định về hiệu lực của hợp đồng tại Điều 401: 3 Vũ Thị Hai Yến (2022), “Một số vấn dé ly luận vé hợp đồng”, Pháp luật về hợp đồng dưới góc nhìn luật học so sánh, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, tr. Hiệu lực của hợp đồng 1. Hợp dong được giao kết hợp pháp có hiệu lực từ thời điểm giao kết, trừ trường hop có thỏa thuận khác hoặc luật liên quan có quy định khác.
Từ thời điểm hop dong có hiệu lực, các bên phải thực hiện quyền và nghĩa vụ đối với nhau theo cam kết. Hợp dong chỉ có thé bị sửa đổi hoặc hủy bó theo thỏa thuận của các bên hoặc theo quy định của pháp luật. ” So với BLDS cũ, BLDS năm 2015 hiện hành vẫn xác định hiệu lực của hợp đồng chú yếu thông qua thời điểm có hiệu lực mà chưa đưa ra định nghĩa cụ thé về khái niệm này. Tuy nhiên, điểm mới đáng chú ý trong BLDS năm 2015 là đã làm rõ hệ quá pháp lý của hiệu lực hợp đồng, cụ thể là giá trị ràng buộc về quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ hợp đồng tại khoản 2 Điều 401.
Quy định này phản ánh nguyên tắc “pacta sunt servanda”- nguyên tắc tận tâm, thiện chí trong pháp luật hợp đồng, theo đó các bên có nghĩa vụ tôn trọng và thực hiện đầy đủ các cam kết đã thỏa thuan.* Hợp đồng chỉ có thé được thực hiện trên tinh thần hợp tác của các bên, sự hợp tác chỉ có được khi các bên thiện chí, “hiên ch?” thường đi kèm với yêu cầu về xử sự “ngay thang” hay “trung thực” và phải thực hiện quyền và nghĩa vụ đối với nhau theo cam kết”. Như vậy, BLDS Việt Nam hiện hành không đưa ra định nghĩa trực tiếp về hiệu lực hợp đồng nhưng gián tiếp thé hiện hiệu lực hợp đồng thông qua thời điểm có hiệu lực và đã làm rõ giá trị ràng buộc quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ hợp đồng. Theo từ điển giải thích thuật ngữ Luật học của Trường Đại học Luật Hà Nội có giải thích khái niệm: “hiệu lực cua hợp dong dan sự” là “giá tri bắt buộc đối với các chủ thể tham gia giao kết hợp đồng. "5 Định nghĩa này về cơ bản đã nêu được ban chất hiệu lực của hợp đồng, nhưng chưa đủ bởi lẽ ngoài giá trị bắt buộc thi hành thì việc một hợp đồng có hiệu lực còn tạo ra các quyền và nghĩa vụ pháp lý cho các chủ thể tham gia hợp đồng.
Ngô Huy Cương, một trong những học giả hàng đầu trong lĩnh vực pháp luật dân sự và pháp luật hợp đồng tại Việt nam có đưa ra quan điểm về “hiệu 4 Điều 26 Công ước Viên năm 1969 về Luật Điều ước quốc tế © Nguyễn Anh Thư (2020), Ngưyên tắc thiện chi trong pháp luật hợp đồng Việt Nam với pháp luật một số quốc gia dưới góc độ so sánh, Luận án tiễn sĩ Luật học, tr. 8 Trường Dai học Luật Hà Nội, “Ti điển giải thích thuật ngữ luật học: Luật dân sự; Luật hôn nhân gia đình; Luật tô tụng dân sự”, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, tr. lực của hợp đông”, tác giải xem xét theo cả nghĩa rộng và cả nghĩa hẹp, trong đó nhắn mạnh các khía cạnh như: (1) tạo lập hợp đồng: quá trình hình thành và xác lập hợp đồng giữa các bên; (2) thi hành hợp đồng: việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ đã cam kết trong hợp đồng: (3) giải thích ý chí của các bên: làm rõ nội dung và ý định thực sự của các bên khi giao kết hợp đồng: (4) bao đảm cho việc biểu lộ ý chí: đảm bảo rằng ý chí của các bên được thé hiện một cách trung thực và không bị ép buộc.” Quan điểm của tác giá cung cấp cái nhìn toàn diện về hiệu lực của hợp đồng, vượt ra ngoài việc chỉ xem xét thông qua thời điểm có hiệu lực của hợp đồng, mà còn bao gồm cả quá trình thực hiện và các yêu tổ liên quan khác; góp phan quan trong việc hiểu và áp dụng khái niệm hiệu lực của hợp đồng trong pháp luật Việt Nam. Trên cơ sở nhận thức bản chất hợp đồng, có thé định nghĩa “Hiéu luc của hợp đồng ” là giá trị pháp lý của hợp đồng, khi hợp đồng có hiệu lực sẽ làm phát sinh và ràng buộc các bên tham gia hợp đồng, theo đó các bên buộc phải tôn trọng và thực hiện nghiêm túc các quyền và nghĩa vụ phát sinh trong hợp đồng đã giao kết.
Khi hợp đồng đáp ứng đầy đủ các điều kiện có hiệu lực theo quy định của pháp luật, hay nói cách khác là được giao kết hợp pháp sẽ có hiệu lực pháp luật. Tuy nhiên, một hợp đồng được coi là có hiệu lực tử thời điểm nào lại là một vẫn đề khác và cần được xem xét riêng biệt.