Tổng quan nghiên cứu

Hoạt động thi hành án dân sự đóng vai trò then chốt trong việc hiện thực hóa phán quyết của Tòa án, bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các bên đương sự. Trong giai đoạn 2016 - 2020, toàn hệ thống thi hành án dân sự Việt Nam đã thi hành xong hơn 2,8 triệu việc (tăng 20,33% so với nhiệm kỳ trước), thu hồi số tiền kỷ lục trên 205 nghìn tỷ đồng (tăng 56%). Riêng năm 2020, giá trị thi hành xong đạt gần 54 nghìn tỷ đồng với tỷ lệ 40,10%, tăng vượt bậc so với mức 29 nghìn tỷ đồng và tỷ lệ 33,74% của năm 2016. Mặc dù kết quả thu hồi tài sản tăng trưởng mạnh mẽ, công tác thi hành án vẫn đối mặt với nhiều áp lực phức tạp như tình trạng đương sự chống đối, cố tình tẩu tán tài sản hoặc khiếu nại kéo dài.

Trong bối cảnh đó, chế định thỏa thuận trong thi hành án dân sự nổi lên như một phương thức giải quyết mềm dẻo, giúp giảm thiểu chi phí cưỡng chế và giải quyết triệt để xung đột. Tuy nhiên, các quy định hiện hành trong Luật Thi hành án dân sự vẫn còn mang tính khái quát, thiếu cơ chế bảo đảm thực thi hiệu quả. Đề tài tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng hệ thống pháp luật Việt Nam và thực tiễn áp dụng cơ chế thỏa thuận trên địa bàn thành phố Hà Nội trong giai đoạn từ năm 2016 đến năm 2023. Mục tiêu cụ thể là làm sáng tỏ bản chất pháp lý của thỏa thuận thi hành án, nhận diện các điểm nghẽn trong thực tiễn áp dụng tại một đô thị đặc thù có lượng án chiếm hơn 15% tổng thụ lý toàn quốc, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ nhằm nâng tỷ lệ thỏa thuận tự nguyện thi hành án, rút ngắn thời gian giải quyết vụ việc và củng cố niềm tin của nhân dân vào nền tư pháp.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên sự kết hợp giữa hai nền tảng lý thuyết cốt lõi trong khoa học pháp lý: Lý thuyết quyền tự do định đoạt trong luật dân sự (Party Autonomy Theory) và Lý thuyết về tính quyền lực nhà nước trong cưỡng chế tư pháp (State Enforcement Theory). Lý thuyết quyền tự định đoạt khẳng định rằng các bên đương sự luôn có quyền tự do xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của mình, kể cả khi bản án đã có hiệu lực pháp luật. Ngược lại, lý thuyết cưỡng chế nhà nước xác định giới hạn của sự tự do nhằm bảo đảm trật tự công cộng và lợi ích của bên thứ ba.

Nghiên cứu vận dụng và chuẩn hóa 4 khái niệm pháp lý trọng tâm:

  • Khái niệm thỏa thuận trong thi hành án dân sự: Quá trình thống nhất ý chí giữa các chủ thể nhằm xác định lại phương thức, thời gian, địa điểm và mức độ thực hiện nghĩa vụ đã được ghi nhận trong bản án.
  • Chủ thể thỏa thuận: Bao gồm người được thi hành án, người phải thi hành án và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
  • Giá trị pháp lý của thỏa thuận: Mức độ ràng buộc và cơ chế chuyển hóa thỏa thuận thành biện pháp cưỡng chế khi một bên vi phạm cam kết.
  • Giới hạn thỏa thuận: Ranh giới pháp lý xác định nội dung không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn bao gồm hệ thống 35 văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam, 12 tài liệu hợp tác quốc tế cùng các báo cáo tổng kết công tác thi hành án dân sự thường niên của Bộ Tư pháp và Cục Thi hành án dân sự thành phố Hà Nội từ năm 2016 đến năm 2022.

Về cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu: Nghiên cứu thực hiện khảo sát chọn mẫu định mức đối với 120 hồ sơ thi hành án dân sự có phát sinh thỏa thuận tại 8 Chi cục Thi hành án dân sự quận, huyện trọng điểm trên địa bàn Hà Nội. Đồng thời, tác giả thực hiện phỏng vấn sâu 25 chuyên gia gồm Chấp hành viên, Thẩm phán và Luật sư có trên 10 năm kinh nghiệm. Việc lựa chọn phương pháp chọn mẫu có chủ đích này nhằm đảm bảo tính đại diện cao cho các dạng tranh chấp phức tạp về kinh doanh thương mại, tín dụng ngân hàng và phân chia di sản thừa kế.

Phương pháp phân tích quy phạm pháp luật kết hợp phương pháp so sánh luật học (nghiên cứu mô hình thi hành án của Liên bang Nga, Trung Quốc, Pháp, Áo, Phần Lan, Latvia) được ưu tiên sử dụng. Sự kết hợp này giúp đánh giá khách quan các lỗ hổng lập pháp trong nước và tiếp thu các chuẩn mực tiến bộ từ Điều 6 Công ước Châu Âu về quyền con người đối với quyền được thi hành án công bằng trong thời hạn hợp lý.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, tồn tại sự thiếu đồng bộ nghiêm trọng về quy định chủ thể có quyền thỏa thuận. Trong khi Điều 6 Luật Thi hành án dân sự chỉ quy định chung chung về quyền của "đương sự", thì Điều 7 và Điều 7a lại mở rộng cho phép thỏa thuận với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Tuy nhiên, Điều 7b lại bỏ sót việc ghi nhận quyền chủ động thỏa thuận của nhóm chủ thể này. Khảo sát thực tế cho thấy có tới khoảng 32% hồ sơ thi hành án có tài sản thế chấp liên quan đến bên thứ ba gặp lúng túng khi xác lập hiệu lực của văn bản thỏa thuận.

Thứ hai, tính ràng buộc pháp lý của thỏa thuận thi hành án còn rất lỏng lẻo. Dù giai đoạn 2016 - 2020 ghi nhận số tiền thi hành xong tăng 84,82% (tăng trên 24 nghìn tỷ đồng), nhưng trong các vụ việc có thỏa thuận, ước tính có khoảng 28% trường hợp một bên cố tình bội ước. Khi đương sự không thực hiện cam kết, Chấp hành viên buộc phải quay lại thi hành theo nội dung bản án ban đầu, làm kéo dài thời gian xử lý hồ sơ trung bình thêm từ 6 đến 14 tháng.

Thứ ba, cơ chế thỏa thuận đang bị lạm dụng để trì hoãn nghĩa vụ thi hành án. Trong khi tỷ lệ thu hồi tiền năm 2019 đạt 35,46% (gần 53 nghìn tỷ đồng) và năm 2020 đạt 40,10%, thực tế tại Hà Nội ghi nhận khoảng 18% vụ việc đương sự lợi dụng quyền thỏa thuận nhiều lần nhằm câu giờ, tạo thời gian để phân tán hoặc tẩu tán tài sản trước khi cơ quan chức năng ban hành quyết định cưỡng chế.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi của các tồn tại trên bắt nguồn từ việc pháp luật Việt Nam mới chỉ coi thỏa thuận là một quyền thuần túy mang tính tùy nghi của đương sự mà chưa xây dựng thành một thủ tục tư pháp có chế tài nghiêm ngặt. Việc quy định nội dung thỏa thuận "không trái đạo đức xã hội" mang nặng tính trừu tượng, dẫn đến việc Chấp hành viên ngần ngại chứng kiến các thỏa thuận phức tạp do lo ngại rủi ro pháp lý cá nhân.

Khi so sánh với pháp luật quốc tế, pháp luật Trung Quốc tại Điều 237 Bộ luật Tố tụng Dân sự quy định biên bản hòa giải thành trong thi hành án có giá trị cưỡng chế trực tiếp, hoặc mô hình tại Cộng hòa Séc giới hạn thời hạn tự nguyện thi hành tối đa trong 30 ngày. Điều này cho thấy pháp luật Việt Nam đang thiếu các quy định mang tính ngăn chặn hành vi lạm dụng quyền dân sự.

Các dữ liệu thống kê biến thiên về tỷ lệ thi hành xong tại Hà Nội qua các năm (từ 33,74% năm 2016 lên 40,10% năm 2020) khi được tổng hợp qua bảng phân tích tiến trình giải quyết án đã phản ánh rõ: Những vụ việc đạt được thỏa thuận tự nguyện thực chất giúp giảm tới 65% chi phí tổ chức cưỡng chế và triệt tiêu hoàn toàn nguy cơ khiếu nại, tố cáo vượt cấp.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, sửa đổi, bổ sung Điều 6 và Điều 7b Luật Thi hành án dân sự theo hướng mở rộng và chuẩn hóa quyền thỏa thuận độc lập cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Mục tiêu loại bỏ 100% vướng mắc về tư cách chủ thể tham gia thỏa thuận, hoàn thành trong chương trình sửa đổi luật giai đoạn 2024 - 2026 do Bộ Tư pháp chủ trì.

Thứ hai, nâng cao giá trị pháp lý bắt buộc của văn bản thỏa thuận thi hành án. Đề xuất quy định: Thỏa thuận thi hành án được lập thành văn bản có sự chứng kiến và xác nhận của Chấp hành viên sẽ có giá trị thi hành như một quyết định tư pháp. Trường hợp bên có nghĩa vụ vi phạm cam kết, Chấp hành viên có quyền áp dụng ngay biện pháp cưỡng chế theo nội dung đã thỏa thuận mà không cần quay lại bản án gốc. Giải pháp này hướng tới mục tiêu rút ngắn ít nhất 45% thời gian xử lý các vụ việc tồn đọng kéo dài trên 1 năm.

Thứ ba, ban hành Thông tư liên tịch giữa Bộ Tư pháp, Tòa án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao hướng dẫn định lượng tiêu chí "không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội". Bộ tiêu chí cần bao gồm danh mục 8 trường hợp điển hình bị coi là tẩu tán tài sản hoặc trốn tránh nghĩa vụ, thực hiện ngay trong giai đoạn 2024 - 2025.

Thứ tư, thiết lập cơ chế giám sát và chuyển đổi số quy trình thỏa thuận tại Cục Thi hành án dân sự thành phố Hà Nội. Triển khai hệ thống phần mềm tra cứu trực tuyến thông tin tài sản thi hành án và ghi nhận kết quả thỏa thuận, phấn đấu nâng tỷ lệ các vụ việc thi hành án giải quyết thông qua thỏa thuận thành công trên địa bàn Thủ đô đạt trên 45% tổng số vụ việc có điều kiện thi hành trước năm 2027.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Chấp hành viên, Thư ký thi hành án và Cán bộ tư pháp: Cung cấp cẩm nang lý luận và kỹ năng thực tiễn để kiểm soát tính hợp pháp của các biên bản thỏa thuận, phòng ngừa rủi ro bị khiếu nại hoặc vô hiệu hóa thỏa thuận trong quá trình tác nghiệp.
  • Thẩm phán và Kiểm sát viên kiểm sát thi hành án: Hỗ trợ góc nhìn chuyên sâu về sự liên thông giữa phán quyết của Tòa án và khả năng thi hành án trên thực tế, phục vụ công tác kiểm sát hoạt động tư pháp chính xác hơn.
  • Luật sư và Chuyên viên pháp lý doanh nghiệp: Nắm bắt các chiến lược đàm phán, kỹ thuật soạn thảo văn bản thỏa thuận phân kỳ thanh toán nợ trong các vụ án kinh doanh thương mại, giúp thân chủ thu hồi nợ nhanh hơn với chi phí thấp nhất.
  • Học viên cao học, Sinh viên luật và Nhà nghiên cứu: Nguồn tư liệu học thuật phong phú về pháp luật so sánh, phương pháp tiếp cận đa chiều về quyền tự định đoạt của đương sự trong giai đoạn hậu tố tụng dân sự.

Câu hỏi thường gặp

Thỏa thuận trong thi hành án dân sự có điểm gì khác biệt so với hợp đồng dân sự thông thường? Thỏa thuận thi hành án không nhằm mục đích xác lập một quan hệ nghĩa vụ mới mà tập trung xác định lại phương thức, tiến độ hoặc mức độ thực hiện nghĩa vụ đã được ấn định trong bản án có hiệu lực. Khác với hợp đồng thông thường, thỏa thuận này bị giới hạn chặt chẽ bởi phán quyết tư pháp và phải chịu sự giám sát trực tiếp của Chấp hành viên.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có được quyền chủ động yêu cầu thỏa thuận thi hành án không? Theo tinh thần bảo vệ quyền tài sản, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan hoàn toàn có quyền tham gia thỏa thuận khi nội dung thi hành án tác động trực tiếp đến quyền lợi của họ. Dù Điều 7b Luật Thi hành án dân sự hiện hành chưa quy định cụ thể, trên thực tế Chấp hành viên vẫn ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận của nhóm chủ thể này để bảo đảm tính khả thi của việc xử lý tài sản.

Hệ quả pháp lý khi một bên cố tình không thực hiện đúng biên bản thỏa thuận thi hành án là gì? Theo quy định tại khoản 2 Điều 6 Luật Thi hành án dân sự, nếu một bên không thực hiện đúng nội dung đã cam kết, bên còn lại có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án tiếp tục cưỡng chế thực hiện phần nghĩa vụ chưa thi hành theo bản án gốc. Điều này cho thấy thỏa thuận chưa có tính hiệu lực tuyệt đối như một phán quyết độc lập mới.

Các bên đương sự có thể thực hiện quyền thỏa thuận vào những giai đoạn nào? Quyền thỏa thuận được pháp luật bảo đảm xuyên suốt toàn bộ quá trình thi hành án. Các bên có thể tiến hành thỏa thuận từ thời điểm bản án có hiệu lực pháp luật, trong giai đoạn tự nguyện thi hành án, và thậm chí ngay trước thời điểm Chấp hành viên thực hiện hành động cưỡng chế kê biên hoặc bán đấu giá tài sản.

Những thỏa thuận nào trong thi hành án dân sự sẽ bị coi là vô hiệu? Thỏa thuận thi hành án sẽ bị vô hiệu nếu vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội, được xác lập do bị lừa dối, đe dọa, hoặc nhằm mục đích trốn tránh nghĩa vụ với bên thứ ba (như tẩu tán tài sản trốn thuế hay trốn trả nợ cho chủ nợ khác). Khi đó, cơ quan thi hành án sẽ bác bỏ kết quả thỏa thuận và áp dụng biện pháp cưỡng chế theo luật định.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về chế định thỏa thuận trong thi hành án dân sự, làm rõ bản chất quyền tự định đoạt của đương sự trong giai đoạn thi hành bản án.
  • Phân tích sâu sắc bức tranh thực tiễn tại thành phố Hà Nội giai đoạn 2016 - 2020, gắn liền với các số liệu toàn quốc về mức tăng trưởng thu hồi nợ đạt trên 205 nghìn tỷ đồng và chỉ rõ những kẽ hở pháp lý khiến 28% thỏa thuận bị vi phạm.
  • Nhận diện chính xác 3 bất cập lớn: quy định thiếu nhất quán về chủ thể, tính ràng buộc pháp lý chưa tuyệt đối và nguy cơ bị lợi dụng để trì hoãn thi hành án.
  • Đề xuất lộ trình 4 nhóm giải pháp mang tính đột phá về sửa đổi lập pháp và ứng dụng công nghệ trong kiểm soát tài sản giai đoạn 2024 - 2027.
  • Công trình là tài liệu tham khảo giá trị cho các nhà lập pháp, Chấp hành viên và Luật sư trong nỗ lực nâng cao hiệu quả thu hồi tài sản và cải cách tư pháp tại Việt Nam. Quý độc giả quan tâm đến các giải pháp chi tiết có thể tra cứu toàn văn công trình để ứng dụng hiệu quả vào thực tiễn nghiên cứu và giải quyết án.