Chương 1: GIỚI THIỆU CHUNG 1.1 Tổng quan về khu dân cư UBND TPHCM đã ban hành Quyết định số 4337/QĐ-UBND duyệt đồ án điều chỉnh quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị tỷ lệ 1/2000 (quy hoạch phân khu) Khu dân cư - công viên giải trí Hiệp Bình Phước, phường Hiệp Bình Phước, quận Thủ Đức. Khu vực nghiên cứu quy hoạch thuộc Khu phố 5, phường Hiệp Bình Phước - quận Thủ Đức - thành phố Hồ Chí Minh, diện tích 194 ha, có phía Đông giáp khu dân cư hiện hữu, phía Đông Nam và Nam giáp khu dân cư hiện hữu, phía Tây, Tây Nam và Bắc giáp sông Sài Gòn. Quy hoạch nhằm thay đổi cách thức tổ chức không gian, tránh sự đơn điệu trong các dự án phân lô nhà phố trước đây, tổ chức các khu ở cao tầng kết hợp thương mại dịch vụ tại khu trung tâm, tạo điểm nhấn và sự sinh động cho khu đô thị; đồng thời hạn chế tổ chức xây dựng các loại nhà phố, nhà liên kế vườn kích thước chiều ngang nhỏ, chỉ bố trí các khu ở: nhà liên kế chiều rộng lớn, biệt thự vườn; các khu căn hộ chung cư cao tầng có tầm nhìn hướng ra sông Sài Gòn và khu công viên cảnh quan ở trung tâm khu dân cư phù hợp với cảnh quan khu vực ven sông Sài Gòn.1 Điều kiện về tự nhiên và môi trường Vị trí địa lý: Phường Hiệp Bình Phước nằm ở cửa ngõ phía Bắc thành phố Hồ Chí Minh, là trung tâm đầu mối giao thông nối liền các tỉnh miền Bắc – Trung và Nam, giáp với nhiều phường - xã bạn như: Phường Hiệp Bình Chánh, Tam Bình, Tam Phú, Bình Chiểu, về phía sông Sài Gòn giáp với các Quận – Huyện là Quận 12 và huyện Thuận An thuộc tỉnh Bình Dương. Được định hình như sau: Đông giáp: Phường Tam Bình, Đông Bắc giáp Phường Bình Chiểu, Đông Nam giáp phường Tam Phú (có tổng chiều dài là 4,5 km).
Tây giáp: Sông Sài Gòn và Quận 12 (Kéo dài từ hướng Tây Nam lên hướng Tây Bắc giáp một phần của Xã Vĩnh Phú, Huyện Thuận An Bình Dương có chiều dài 6 km). Nam giáp: Phường Hiệp Bình Chánh (kéo dài từ hướng Đông Nam chạy theo sông Ông Dầu qua hướng Tây Nam giáp sông Sài Gòn dài 1,5 km ). Bắc giáp: xã Vĩnh Phú - Huyện Thuận An Tỉnh Bình Dương (từ hướng Tây Bắc qua hướng Đông Bắc có chiều dài 0,7 km). Có tổng diện tích tự nhiên 765, 3468 ha trong đó: diện tích đất nông nghiệp 350,127 ha và đất phi nông nghiệp là 415,2216 ha.
Được phân chia thành 6 khu phố, trong đó có 78 tổ dân phố. Khu phố có diện tích lớn nhất là 300 ha và nhỏ nhất là 60 ha. Địa hình: 7 Là một địa bàn nhiều kênh, rạch được bao bọc xung quanh bởi sông Sài Gòn, chạy từ hướng Tây - Bắc xuống hướng Tây -Nam đổ vào sông Rạch Đĩa chạy vòng lên hướng Đông - Bắc, qua sông Vĩnh Bình hòa vào sông Sài Gòn. Địa hình bằng phẳng nằm trên lưu vực sông Sài Gòn, trãi dài theo hướng Tây Bắc đến Đông Nam với dạng địa hình đặc trưng đô thị và vùng mới phát triển đô thị.
Khu trung tâm được xác định bởi các khu phố 3 và 5 với cấu trúc khu dân cư tập trung, kiến trúc ít nhà cao tầng. *Sông ngòi: Hệ thống sông ngòi gồm có sông chính là sông Sài Gòn, đọan chạy từ hướng Tây - Nam ngược lên hướng Tây - Bắc qua khu phố 1, 3, 5 dài khoảng 6000 mét. Ngoài ra còn có 2 nhánh sông là sông Rạch Đĩa và sông Vĩnh Bình: - Sông Rạch Đĩa, đọan chảy từ khu phố 6 qua khu phố 4 và khu phố 2 (dài 4. - Sông Vĩnh Bình, chảy từ khu phố 2 qua khu phố 1 (dài 2.
Thời tiết – Khí hậu – Thủy văn: Thời tiết: Nằm trong khu vực gió mùa nhiệt đới ít bị ảnh hưởng của bão, thời tiết trong năm được chia làm hai mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa nắng : - Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10. - Mùa nắng từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau. Khí hậu: - Nhiệt độ khí hậu từ 24 đến 320C, trung bình cả năm là 280C. + Tháng 04 có nhiệt độ thấp nhất là 29,10C + Tháng 10 có nhiệt độ thấp nhất là 26,70C.
- Số giờ nắng trong năm là : 2.245,9 giờ + Tháng 02 có số giờ nắng ít nhất là 193,1 giờ. + Tháng 10 có số giờ nắng ít nhất là 105,6 giờ. - Lượng mưa cả năm là 1. + Tháng 5 có lượng mưa nhiều nhất là 478,0 mm + Tháng 02 có lượng mưa ít nhất là 27,3 mm.
Vào những ngày có lượng mưa cao nhất, nước mưa làm quá tải khả năng tiêu thoát nước, đặc biệt vào lúc triều cường gây ngập úng trên diện rộng gây ảnh hưởng đến sinh họat, đời sống của bà con, nhân dân. - Độ ẩm trung bình cả năm là 74% + Tháng 10 có độ ẩm cao nhất là 86% + Tháng 01 và 02 có độ ẩm thấp nhất là 71% Thủy văn: - Mực nước sông Sài Gòn : + Thấp nhất : tháng 8 (-2,40 mét) + Cao nhất: tháng 10 (+1,46 mét) - Thủy triều bán nhật (không đều) lên xuống ngày 02 lần, mỗi lần cách nhau 06 giờ.2 Điều kiện về kinh tế xã hội Về kinh tế: Từ năm 1993 là một trong những năm đầu thực hiện sự chuyển đổi chính sách một nền kinh tế thị trường, phường đã đầu tư tạo điều kiện phạt triển mọi tiềm năng đặc thù của một nền kinh tế phù hợp với tiềm năng thực lực của địa phương, từ một phường trong những năm trước đây người dân địa phương chủ yếu sống dựa vào nông nghiệp và kinh tế vườn là chủ yếu. Ảnh hưởng đô thị hóa, việc chuyển đổi mục đích trong sử dụng đất nông nghiệp, người dân từng bước chuyển đổi lao động và phát huy thế mạnh hiện tại của nền kinh tế sản xuất hàng hóa. Trên địa bàn phường, thời gian qua ngày càng có thêm nhiều cơ sở kinh tế và văn hóa, nhiều công trình đã mọc lên, đường xá, cầu cống ngày càng được mở rộng, cùng với việc nâng cấp Quốc lộ 13 (đoạn KP1 và 2, cầu Vĩnh Bình được Nhà nước đầu tư mở rộng tách biệt hai hướng đi và về, độ cao tỉnh không cũng được nâng cao tạo điều kiện cho tàu thuyền qua lại vận chuyển hàng hoá từ các nơi về tập kết tại chợ đầu mối Tam Bình (Thủ Đức) được thuận lợi.
Tốc độ xây dựng nhanh góp phần làm thay đổi bộ mặt của phường vốn trước đây đi dọc theo suốt tuyến đường trên địa bàn phường vẫn thấy còn đất hoang hóa trống trãi. Để thực hiện các mục tiêu, chương trình kinh tế lớn là chương trình phúc lợi xã hội, giữ vững tình hình an ninh quốc phòng, trật tự an tòan xã hội, từ năm 2000 trở lại đây, vấn đề xây dựng cơ bản cơ sở hạ tầng, các công trình giao thông thủy lợi, điện nước sinh họat đều được quan tâm đầu tư nâng cấp, sửa chữa, các cầu nhỏ bằng ván trên địa bàn đều được bê tông hóa tạo điều kiện cho việc đi lại sinh họat, lao động sản xuất được thuận lợi hơn, hầu hết khu dân cự đều có lưới điện, chương trình nước sinh họat cũng được phường quan tâm đầu tư đảm bảo vệ sinh nguồn nước cho nhân dân địa phương. địa bàn phường chỉ có một nhà máy quốc doanh (Đay Việt Ấn), không có một cơ sở sản xuất ngòai quốc doanh nào, nay phường tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế, các cơ sở ngòai quốc doanh vốn thích nghi với nền kinh tế thị trường đã có sự phát triển nhanh chóng như Công Ty cân Nhơn Hòa một xí nghiệp hình thành và phát triển từ một HTX sản xuất cơ khí nhỏ lẻ, thêm vào một đại diện cho ngành công nghiệp thực phẩm là Công ty chế biến thực phẩm, bánh kẹo Kinh Đô, những xí nghiệp trên ngày càng tạo được uy tín và thị phần cả trong nước lẫn nước ngòai, ngòai ra còn một số xí nghiệp may mặt, da giày những xí nghiệp trên phần lớn giải quyết cho hàng ngàn lao động tại chỗ và các nơi khác đến tạm trú làm việc trên địa bàn. Về kinh tế vườn, địa phương tuy bị tác động bởi sự chuyển đổi từ một nền kinh tế thuần nhất về nông nghiệp sang nền sản xuất hàng hóa, diện tích đất nông nghiệp ngày bị mất dần do sự chuyển đổi mục đích sử dụng.
Song yếu tố trên không làm ảnh hưởng đến kinh tế vườn mà hiện nay ngày càng phát triển, nhất là số hộ trồng hoa kiểng trước đây chỉ xuất phát từ việc trồng hoa kiểng để làm thú vui trang trí, thưởng lãm trong những ngày nông nhàn, nay đã trở thành những nghệ nhân có tên tuổi trong làng hoa kiểng ở TP Hồ Chí Minh như anh Hùynh Hải Tàng, anh 9 Hùynh Tấn Lực, anh Phạm Văn Tư, Nguyễn Hồng Tâm, Lý Tô Há, chị Nguyễn Thị Tân Tân là những nghệ nhân hoa kiểng có thu nhập bình quân hàng năm có trên hai trăm triệu đồng, hiện nay diện tích vườn mai tại địa phương là 45,91 ha. Đây cũng là một lọai hình văn hóa được tập trung tại địa bàn KP6 của phường. Về chăn nuôi có 14 hộ chăn nuôi bò sữa với tổng số 183 con, số đầu heo có trên 600 con trong đó có 82 con heo nái, ngòai ra tác động của dịch cúm H5N1 đã tạm thời triệt tiêu việc chăn nuôi của hơn 40 hộ chăn nuôi gà vịt mà mỗi đợt xuất chuồng trước đây lên đến 5000 đến 6000 con. Nhìn chung về kinh tế, địa phương có mặt phát triển tốt thì cũng có mặt co cụm như: diện tích đất nông nghiệp, diện tích vườn giảm do chuyển đổi mục đích sử dụng sang đất ở, sản xuất khác, sự tăng nhanh dân số cơ học trên địa bàn, nhu cầu nhà ở ngày càng nhiều hơn đã làm dịch chuyển cơ cấu sử dụng đất trên địa bàn hiện nay theo hướng đô thị hoá hiện nay.
Dân số và lao động: Ảnh hưởng của tốc độ đô thị hóa , những năm gần đây có xu hướng dịch chuyển dân cư từ nội thành ra ngọai thành xu thế này phù hợp với yêu cầu dãn dân và đô thị hóa. Hiện nay dân số trên tòan địa bàn có 30.893 người (kể cả tạm trú các diện khác) số nhân khẩu nữ có 15.791 người chiếm tỷ lệ 51,11%, nam có 15.102 người chiếm tỷ lệ 48,89%, số người trong độ tuổi lao động có 14.896 người chiếm tỷ lệ 41,22% trên tổng số dân, trong đó có khỏang 8 % là học sinh – sinh viên, 25 % là nội trợ.