CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ BỆNH VIỆN ĐA KHOA LONG AN 1. Giới thiệu sơ lược BỆNH VIỆN ĐA KHOA LONG AN Địa chỉ: 211 Nguyễn Thông, phường 3, Thành Phố Tân An Mã số thuế: 1100152833 Bệnh viện đa khoa Long An với quy mô 900 giường bệnh và hơn 500 cán bộ công nhân viên, bo gồm: thạc sĩ, chuyên khoa cấp 1, Bác sĩ, Dược sĩ. Bệnh viện Đa khoa tỉnh Long An 1. Nhiệm vụ của bệnh viện Đa khoa Long An Bệnh viện ĐKLA là bệnh viện đa khoa hạng II, là bệnh viện đầu ngành của tỉnh Long An, có các chức năng nhiệm vụ như sau: • Cấp cứu – Khám bệnh - Chữa bệnh: - Tiếp nhận tất cả các trường hợp người bệnh từ hoặc từ các Bệnh viện khác chuyển đến để cấp cứu, khám bệnh, chữa bệnh nội trú hoặc ngoại trú.
- Tổ chức khám sức khỏe và chứng nhận sức khỏe theo qui định của nhà nước. - Có trách nhiệm giải quyết hầu hết các bệnh tật trong tỉnh - Tổ chức khám giám định sức khỏe, giám định pháp y khi hội đồng giám định y khoa tỉnh, thành phố hoặc cơ quan bảo vệ pháp luật trưng cầu. - Chuyển người bệnh lên tuyến trên khi bệnh viện không đủ kha năng giải quyết. • Đào tạo cán bộ y tế: SVTH: Ngô Thị Ngọc Oanh – MSSV: 15150109 5 do an Đồ án Tốt nghiệp Khóa 2015 GVHD: Th.S Nguyễn Ngọc Thiệp - Bệnh viện là cơ sở thực hành để đào tạo cán bộ y tế cho Trường trung cấp y tế Long An.
- Tổ chức đào tạo liên tục cho các thành viên trong bệnh viện và tuyến dưới để nâng cao trình độ chuyên môn • Nghiên cứu khoa học về y học: - Tổ chức nghiên cứu khoa học cấp ngành , cấp Cơ Sở, chú trọng nghiên cứu về y học cổ truyền kết hợp với y học hiện đại và các phương pháp chữa bệnh không dùng thuốc. - Kết hợp với bệnh viện tuyến trên và các bệnh viện chuyên khoa đầu ngành để phát triển kỹ thuật của bệnh viện, nghiên cứu khoa học. • Chỉ đạo tuyến dưới về chuyên môn, kĩ thuật - Lập kế hoạch và chỉ đạo tuyến dưới (Bệnh viện hạng III) thực hiện việc phát triển kỹ thuật chuyên môn. - Kết hợp với bệnh viện tuyến dưới thực hiện các chương trình về chăm sóc sức khỏe ban đầu trong địa bàn tỉnh • Phòng bệnh: Phối hợp với các cơ sở y tế dự phòng thường xuyên thực hiện nhiệm vụ phòng bệnh, phòng dịch.
Hiện trạng môi trường tại bệnh viện đa khoa Long An. Môi trường nước Nguồn nước cấp đáp ứng nhu cầu sử dụng cho bệnh viện được cung cấp từ hẹ thống cấp nước thành phố. Nước thải của bệnh viện đa khoa Long An bao gồm các loại khác nhau như: - Nước mưa thu gom trên toàn bộ diện tích khuôn viên của bệnh viện. - Nước thải sinh hoạt của Cán bộ nhân viên trong bệnh viện, của bệnh nhân và thân nhân bệnh nhân thăm nuôi bệnh.
- Nước thải phát sinh từ các hoạt động khám và điều trị bệnh. - Nước thải ra từ các công trình phụ trợ thiết bị phụ trợ như giải nhiệt máy phát điện, giải nhiệt cho máy điều hòa,. Chất thải rắn Bên cạnh những vấn đề ô nhiễm do nước thải, một vấn đề khác về môi trường rất đang quan tâm trong quá trình hoạt động của bệnh viện là chất thải rắn. Các chất thải rắn phát sinh trong púa trình hoạt động của bệnh viện có thể được xem là chất thải nguy hại cần có biện pháp quản lý thích hợp.
Chất thải rắn của bệnh viện chủ yếu là : - Chất thải từ các hoạt động khám chữa bệnh gồm: các loại bệnh phẩm vứt bỏ sau các ca phẫu thuật, bông băng, chăn màn, dụng cụ y khoa sau khi sử dụng (ống 6 SVTH: Ngô Thị Ngọc Oanh – MSSV: 15150109 do an Đồ án Tốt nghiệp Khóa 2015 GVHD: Th.S Nguyễn Ngọc Thiệp tiêm, kim tiêm, vỏ ống thuốc thủy tinh, chai lọ đựng thuốc,. Đây được đánh giá là chất có mức ô nhiễm cáo, chứa nhiều vi trùng gây bệnh, dễ gây tác động xấu đến môi trường và con người. - Rác sinh hoạt của CBNV bệnh viện và thân nhân bệnh nhân. - Bên cạnh đó còn gồm cả các loại cặn bùn sinh ra do quá trình xử lý nước thải, các tàn tro sinh ra sau mỗi hành trình vận hành lo đốt rác.
Môi trường không khí Trong quá trình hoạt động của bệnh viện, 2 nguồn chủ yếu có khả năng gây ô nhiễm môi trường không khí là: - Hoạt động của các phương tiện lưu thông trong khuôn viên bệnh viện. Tuy nhiên, lượng xe cộ cho phép lưu thông trong bệnh viện có giới hạn nên mức độ ô nhiễm cũng không đáng kể. - Khí thải từ các hoạt động sinh hoạt khác của con người: sản phẩm khi đốt phục vụ bữa ăn, bụi và khói thải do vận tải, khói thuốc lá. Nhìn chung vấn đề môi trường của bệnh viện chủ yếu là quan tâm về nước thải.
SVTH: Ngô Thị Ngọc Oanh – MSSV: 15150109 7 do an Đồ án Tốt nghiệp Khóa 2015 GVHD: Th.S Nguyễn Ngọc Thiệp CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ NƯỚC THẢI BỆNH VIỆN 2. Thực trạng nước thải bệnh viện ở Việt Nam Theo kết quả khảo sát trong thời gian 1997 – 2002 của trung tâm tư vấn và chuyển giao công nghệ nước sạch và môi trường, định mức sử dụng nước tính trên giường bệnh nước ta như bảng sau: Bảng 2. Định mức sử dụng nước ước tính theo giường bệnh Đối tượng Số lượng/ ngày Nhu cầu tiêu thụ nước, lít/ ngày Số giường bệnh N 300 – 350 Số cán bộ công nhân viên (0,8 – 1,1)N 100 – 150 Người nhà bệnh nhân (0,9 – 1,3)N 50 – 70 Sinh viên thực tập, khách (0.7 – 1)N 20 -30 Tổng số nước dùng thực tế (3,4 – 4,4)N 470 – 600 Tính cả nhu cầu phát triển 650 - 950 (Nguồn: Trung tâm tư vấn chuyển giao công nghệ nước sạch và môi trường) Từ lượng nước sử dụng đó sinh ra nước thải. Thực tế hiện nay lượng nước sử dụng trường đô thị và khu công nghiệp từ năm 1992 đến năm 1998, của Bộ môn cấp thoát nước- môi trường nước thuộc trường Đại Học Xayy Dựng Hà Nội trong 2 năm 1996- 1997 và của Ban chỉ đạo quốc gia về cung cấp nước sạch và bảo vệ môi trường năm 1998 đểu cho thấy lưu lượng nước thải các bệnh viện vượt quá công suất thiết kê nhiều lần.
Phần lớn lượng nước thải sau sử dụng đều xả vado hệ thống thoát nước. Lượng nước thực tế thải ra tính cho một giường bệnh trong một ngày đêm vượt tiêu chuẩn của các nước Đức, Nga, Mỹ và lớn hơn rất nhiều so với các tiêu chuẩn Việt Nam. Tiêu chuẩn dùng nước của một số bệnh viện do Chính Phủ Thụy Điển tài trợ xây dựng như bệnh viện Uông Bí là 2.500 l/giường bệnh. Ngày đem, Viện bảo vệ sức khỏe trẻ em là 1.700l/giường bệnh.ngày đêm, của các bệnh viện quân đội và công an khoảng 1.0001l/giường bệnh.
Do đặc điểm chữa bệnh và nghiên cứu khác nhau, tiêu chuẩn nước cấp của các bệnh viện rất khác nhau. Nhìn chung, đối với các bệnh viện đa khoa cấp tỉnh, tiêu chuẩn cấp nước ở mức 600-800l/giường bệnh. Đối với các bệnh viện chuyên khoa hoặc các bệnh viện trung ương, lượng nước sử dụng tương đối cao (đến 1.ngày đêm) do nước sử dụng cho cả mục đích nghiên cứu đào tạo. Tại các bệnh viện chuyên khoa, tỉ số bác sĩ và nhân viên phục vụ trên một giường bệnh tương đối cao (1,2 – 1,4).
Số bệnh nhân điều trị nội trú 8 SVTH: Ngô Thị Ngọc Oanh – MSSV: 15150109 do an Đồ án Tốt nghiệp Khóa 2015 GVHD: Th.S Nguyễn Ngọc Thiệp cũng lớn hơn số giường bệnh theo thiết kế rất nhiều. Ngoài ra còn một nguyên nhân khác làm cho lượng nước thải tăng là tổn thất do thiếu ý thức của người nhà bệnh nhân khi sử dụng khu vệ sinh hoặc vòi nước công cộng. Theo tính toán của Bộ môn Cấp thoát nước – môi trường nước của trường Đại Học Xây Dựng Hà Nội, dựa trên cơ sở khảo sát một số bệnh viện, thì nhu cầu sử dụng nước tại các bệnh viện như sau: - Điều trị: 18% - Lau nhà: 15% - Bệnh nhân tắm: 10% - Giặt giũ: 18% - Nấu nước, thức ăn: 12% - Cán bộ công nhân viên sử dụng: 12% - Hao hụt tổn thất: 15% Như vậy ở nước ta, theo các nghiên cứu thì tiêu cuẩn thải nước bệnh viện từ 600 – 1000l/giường bệnh.ngày đêm phụ thuộc vào các loại và các cấp bệnh viện. Phần lớn các bệnh viện, phòng khám, cơ sở điều trị…đều nằm ở các khu đô thị.
Đây là nơi tập trung đông người, có lượng nước tiêu thụ lớn. Do đó, có thể thấy nước thải bệnh viện là một dạng của nước thải sinh hoạt đô thị. Trong nước thải chứa chủ yếu các chất hữu cơ và chất ô nhiễm nguồn gốc sinh hoạt của con người. Tuy nhiên, do nước sử dụng trong quá trình chữa bệnh và chăm sóc bệnh nhân nên về mặt vệ sinh và dịch tễ học, trong nước thải bệnh viện chứa nhiều vi khuẩn gây bệnh và dễ lây lan.
Nguồn gốc nước thải bệnh viện Trong quá trình hoạt động của bệnh viện, nước thải sinh ra trong toàn bộ khuôn viên bệnh viện bao gồm các loại khác nhau với nguồn thải tương ứng như: - Sinh hoạt của bệnh nhân, người nuôi bệnh, cán bộ và công nhân viên của bệnh viện; - Pha chế thuốc; tẩy khuẩn; - Lau chùi phòng làm việc; - Nước thải từ các hoạt động khám và điều trị bệnh. Nhìn chung nước thải bệnh viện đặc trưng là chứa nhiều mầm bệnh đặc biệt là các bệnh truyền nhiễm. Một số khu vực có mức độ nhiễm vi sinh gây bệnh, cặn lơ lửng, các chất hữu cơ rất cao như: - Nước thải do mổ: chứa máu và các bệnh phẩm,… - Nước thải khu xét nghiệm: chứa nhiều vi trùng gây bệnh khác nhau. SVTH: Ngô Thị Ngọc Oanh – MSSV: 15150109 9 do an Đồ án Tốt nghiệp Khóa 2015 GVHD: Th.S Nguyễn Ngọc Thiệp Giá trị BOD, COD, cặn ở khu này vượt quá nhiều lần chỉ tiêu cho phép.
Ngoài ra nước thải còn có khả năng nhiễm xạ từ các khu X – Quang, rửa phim. Việc XLNT bị nhiễm phóng xạ rất khó khăn và tốn kém (do chu kì phân hủy các chât phóng xạ khá lâu). Trong điều kiện hiện nay không đề cập đến việc xử lý loại nước thải này mà chỉ xử lỹ có tính chất sơ bộ trong toàn bộ dây chuyền XLNT của bệnh viện.