CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Cở sở lý luận việc xây dựng sơ đồ tư duy trong dạy học 1. Khái niệm sơ đồ tư duy Sơ đồ tư duy (SĐTD) còn có thể gọi là lược đồ tư duy, là hình thức ghi chép nhằm tìm tòi đào sâu, mở rộng một ý tưởng, hệ thống hóa một chủ đề hay một mạch kiến thức,. bằng cách kết hợp việc sử dụng đồng thời hình ảnh, đường nết, màu sắc, chữ viết với sự tư duy tích cực.
Đặc biệt đây là một sơ đồ mở, không yêu cầu tỉ lệ, chỉ tiết khắt khe như bản đồ địa lí, có thể vẽ thêm hoặc bớt các nhánh, mỗi người về một kiểu khác nhau, dùng màu sắc, hình ảnh, các cụm từ diễn đạt khác nhau, cùng một chủ đề nhưng mỗi người có thể “thể hiện” nó dưới dạng SĐTD theo một cách riêng, do đó SĐTD được sử dụng để thay thế cho cách ghi chép lược dòng cổ điển giúp người học tăng khả năng nhớ, nhanh chóng nhìn thấy mối liên hệ giữa các ý tưởng, kĩ thuật giúp động não, giúp tối ưu và đơn giản hóa thông tin, có thể nắm được thông tin một cách nhanh chóng, tăng khả năng sáng tạo,. Sơ đồ tư duy hiện là một công cụ đang được sử dụng bởi hơn 250 triệu người trên thế giới trong đó có các công ty lớn như HP. Các tổ chức giáo dục, giáo viên và học sinh, sinh viên (SV) các mước cũng sử dụng Sơ đồ Tư duy trong nghiên cứu, giảng dạy và học tập. Phương pháp sử dụng sơ đồ tư duy (Mindmap) đã được phát triển trên thế giới vào cuối thập niên 60 của thế kỷ XX bởi tác giả Tony Buzan, như là một cách để giúp học sinh “ghi lại bài giảng” mà chỉ cần dùng các từ khóa và hình ảnh, cách ghi chép này sẽ nhanh hơn, dễ nhớ và dễ ôn tập hơn.
Tony Buzan là nhà văn, nhà thuyết trình, cố vấn hàng đầu thế giới cho các chính phủ, doanh nghiệp, ngành nghề, trường học về não bộ, kiến thức và những kỹ năng tư duy. Ông là nhà sáng lập sơ đồ tư duy, công cụ tư duy thường được gọi là “công cụ vạn năng của bộ não”. Tony Buzan còn là người đi đầu trong lĩnh vực về não và phương pháp học tập với hơn 80 tác phẩm với tổng cộng hơn 3 triệu bản đã được bán ra. Nhiều cuốn sách và những sản phẩm đã giành được những thành công lớn ở hơn 100 nước với 7 hơn 30 ngôn ngữ.
Ông còn là giảng viên hàng đầu trong lĩnh vực này. Tony Buzan được coi là “thầy phù thủy hàng đầu về lĩnh vực tư duy” với nhiều bài thuyết giảng cho đông đảo khán giả thuộc mọi độ tuổi, mọi tầng lớp trong xã hội [3]. Theo Tony Buzan [10], SĐTD được nghiên cứu dựa trên các cơ sở khoa học sau: Chức năng não bộ: Hai bán cầu não có chức năng khác nhau; bán cầu phải mạnh về màu sắc, hình ảnh, biểu tượng, tưởng tượng và nhận thức không gian, trong khi bán cầu trái ưu thế trong logic, ngôn ngữ và phân tích. Sử dụng đồng thời cả hai bán cầu sẽ nâng cao hiệu quả ghi nhớ và nhận thức.
Tâm lý học của quá trình học và ghi nhớ: Nghiên cứu cho thấy não dễ dàng nhớ thông tin đặc biệt như những thông tin ở đầu hoặc cuối buổi học, cũng như những thông tin liên kết với những gì đã được lưu trữ trong não. Sơ đồ tư duy được phát triển ở Việt Nam trong một vài năm gần đây. Theo từ điển Tiếng Việt của tác giả Hoàng Phê: “Sơ đồ tư duy là hình vẽ quy ước, có tính chất sơ lược, nhằm mô tả một đặc trưng nào đó của sự vật hay một quá trình nào đó” [11] và “Tư duy là giai đoạn cao của quá trình nhận thức, đi sâu vào bản chất và phát hiện ra tính quy luật của sự vật bằng những hình thức như biểu tượng, khái niệm, phán đoán và suy lí” [11]. Dưới đây là ví dụ về SĐTD bài 4: “Khúc xạ ánh sáng” sách KHTN 9 chân trời sáng tạo.
SĐTD bài: Khúc xạ ánh sáng KHTN 9 Chân trời sáng tạo. Theo cuốn Dạy và học tích cực - một số phương pháp và kĩ thuật dạy học của Dự án Việt -Bỉ “SĐTD là một hình thức ghi chép có thể sử dụng màu sắc và 8 hình ảnh để mở rộng và đào sâu các ý tưởng. Nhờ sự kết nối giữa các nhánh, các ý tưởng được liên kết với nhau khiến SĐTD có thể bao quát được các ý tưởng trên một phạm vi sâu rộng. Tính hấp dẫn của hình ảnh, âm thanh,.
gây ra những kích thích rất mạnh lên hệ thống rìa (hệ thống cổ áo) của não giúp cho việc ghi nhớ được lâu bền và tạo ra những điều kiện thuận lợi đểvỏnão phân tích, xử lí, rút ra kết luận hoặc xây dựng mô hình về đối tượng cần nghiên cứu” [12]. Như vậy, sử dụng SĐTD có thể “trực quan hoá” kiến thức trừu tượng, gây được ấn tượng mạnh, xây dựng mạch tư duy mạch lạc giữa các phần, các ý. Do đó, sơ đồ tư duy là một trong những phương pháp dạy học phù hợp và có hiệu quả. Việc thiết kế SĐTD trên giấy có nhược điểm là khó lưu giữ, khó thay đổi và chỉnh sửa.
Với sự phát triển của công nghệ thông tin, xã hội hoá, hiện đại hoá, có thể khắc phục nhược điểm này bằng cách sử dụng các phần mềm như Free Mind, Mindmap, Visual Mind,. để thiết lập SĐTD. Và đặc biệt ở đề tài này sử dụng phần mềm iMindmap 10 để thiết sơ đồ tư duy cho môn KHTN 9. Vai trò của sơ đồ tư duy Sử dụng SĐTD trong dạy học có thể giúp HS phát triển tư duy, khả năng phân tích tổng hợp, giúp họ hiểu bài, nhớ lâu hơn; thay cho việc ghi nhớ lí thuyết dạng thuộc lòng bằng sự ghi nhớ dạng sơ đồ hóa kiến thức.
Việc sử dụng SĐTD trong dạy học có vai trò: - Hỗ trợ HS học được phương pháp học: Việc rèn luyện phương pháp học tập cho HS không chỉ là một biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học mà còn là mục tiêu dạy học. Thực tế cho thấy một số HS rất chăm chỉ nhưng vẫn học kém. HS này thường học bài nào biết bài đó, học phần sau đã quên phần trước và không biết liên kết các kiến thức với nhau, không biết vận dụng kiến thức đã học trước đó vào những phần sau. Phần lớn số HS này khi đọc sách hoặc nghe giảng trên lớp không biết cách tự ghi chép để lưu thông tin, lưu kiến thức trọng tâm vào trí nhớ của mình.
Sử dụng thành thạo SĐTD trong dạy học sẽ giúp HS tăng tính độc lập, chủ động, sáng tạo và phát triển tư duy. - SĐTD để dạy học hỗ trợ HS học tập một cách tích cực: Một số kết quả nghiên cứu cho thấy bộ não của con người sẽ hiểu sâu, nhớ lâu và in đậm cái mà 9 do chính mình tự suy nghĩ, tự viết, vẽ ra theo ngôn ngữ của mình. Vì vậy việc sử dụng SĐTD trong dạy học giúp HS học tập một cách tích cực, huy động tối đa tiềm năng của bộ não. - Dạy học bằng SĐTD giúp HS ghi chép có hiệu quả: Do đặc điểm của SĐTD ngắn gọn nhưng phải đầy đủ và chính xác nên GV, người thiết kế SĐTD phải chọn lọc thông tin, từ ngữ, sắp xếp, bố cục để “ghi” thông tin cần thiết nhất và lôgic, vì vậy, sử dụng SĐTD trong dạy học sẽ giúp HS dần dần hình thành cách ghi chép có hiệu quả.
Với SĐTD, học sinh được phát triển các ý tưởng, xây dựng các mô hình và thiết kế mô hình vật chất hoặc tinh thần để giải quyết các vấn đề thực tiễn đặt ra trong các hoạt động học tập của mình. Từ đó, cùng với việc hình thành kĩ năng tự học thì các kĩ năng tư duy cũng được phát triển. Đặc biệt, khi làm việc với SĐTD, HS học được cách làm việc, cách thu thập thông tin, tổ chức thông tin, thể hiện ý tưởng theo sự sáng tạo của bản thân mình. - Kích thích hứng thú học tập: Học sinh trung học cơ sở đang trải qua giai đoạn dậy thì, một thời kỳ có nhiều biến đổi về tâm sinh lý.
Những thay đổi này có thể làm cho học sinh cảm thấy việc học tập trở nên nhàm chán và tẻ nhạt. Sơ đồ tư duy mang lại một phương pháp học tập mới mẻ, nhẹ nhàng và thoải mái, giúp học sinh giảm bớt áp lực và căng thẳng trong quá trình học. Sơ đồ tư duy có ưu điểm là: dễ nhìn, dễ viết, kích thích hứng thú học tập và khả năng sáng tạo của học sinh, từ đó sẽ có mọi người sẽ dễ dàng ghi nhớ và hình dung được các kiến thức được trình bày trong sơ đồ tư duy một cách dễ dàng hơn vì chúng có hình ảnh minh họa màu sắc phong phú, đẹp mắt. - Phát triển nhận thức: dạy học bằng sơ đồ tư duy là công cụ hiệu quả để phát triển các kỹ năng tư duy, khả năng giải quyết vấn đề, óc sáng tạo và trí tưởng tượng của học sinh.
Học sinh phải vận dụng kiến thức đã học để hiểu và tư duy về kiến thức bài học. Quá trình này không chỉ giúp học sinh ghi nhớ kiến thức một cách lâu bền mà còn cải thiện khả năng tư duy logic và sáng tạo. Qua nghiên cứu của giáo viên các trường cho thấy, rất nhiều học sinh chưa tìm ra cách học phù hợp cho cá nhân mình, hầu hết các học sinh chỉ học thuộc lòng, học vẹt, thuộc một cách máy móc, thuộc nhưng không nhớ được kiến thức 10 trọng tâm, không ghi nhớ được bản chất của kiến thức đó hay ghi nhớ rất dài dòng không có tính logic. Bằng cách sử dụng hình ảnh, đường nét, màu sắc, chữ viết ngắn gọn giúp học sinh tò mò về kiến thức đó như vậy học sinh sẽ tìm tòi đào sâu, mở rộng một ý tưởng, tóm tắt những ý chính của một nội dung, hệ thống hoá một chủ đề và khi tạo được một tác phẩm đẹp.
HS khác cũng sẽ cố gắng tự chính bản thân tìm tòi bài học đó và quan trọng hơn là biết cách tự ghi chép đầy đủ nội dung bài học khi nhìn vào một bài nào đó, có thể nhớ lại sơ đồ tư duy đã được học ở tiết trước từ đó HS sẽ tự triển khai được các công thức, lý thuyết để làm được bài đó.