Chương 1: Cơ sở lí luận về vấn đề nghiên cứu - Chương 2: Cơ sở thực tiễn về đào tạo lái xe mô tô tại Bạc Liêu - Chương 3: Thiết kế bộ phương tiện dạy học trong dạy lý thuyết lái xe mô tô 5 Luan van B. PHẦN NỘI DUNG Chƣơng 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. TỔNG QUAN VỀ DẠY HỌC TRỰC QUAN * Thế giới Nói đến vai trò quan trọng của dạy học trực quan, tục ngữ Trung hoa có câu: “ Điều tôi nghe tôi quên, điều tôi nhìn tôi nhớ, điều tôi làm tôi hiểu”.Komensky (1592 – 1670) nhà sư phạm vĩ đại ở thế kỷ XVII, người Cộng hòa Séc, ông là một trong những người đi đầu đưa ra yêu cầu phải đảm bảo tính trực quan trong dạy học.
Khi đề cập đến phương pháp giảng dạy các khoa học, ông khuyên các giáo viên rút ra “ quy luật vàng” như sau: “Trong khả năng có thể phải đặt vật trước các giác quan. Mọi vật có thể thấy được thì đưa đến thị giác, mọi vật có thể nghe được thì đưa đến trước thính giác. Các mùi vị phải được đưa đến trước khứu giác và vị giác, và các vật có thể sờ được thì phải đưa đến trước xúc giác. Nếu một vật có thể tạo một ấn tượng cùng một lúc trên các giác quan khác nhau, nó phải được đưa cho tiếp xúc với các giác quan ấy”.
Theo quy tắc này của ông, quá trình dạy học cần tận dụng tất cả các giác quan của học sinh. Cách dạy này, theo ông, sẽ giúp cho học sinh dễ dàng nắm tri thức. Có thể nói rằng, việc đưa ra “quy luật vàng” của Komensky đánh dấu một bước phát triển quan trọng trong việc xây dựng lý luận dạy học lúc bấy giờ.Rousseau ( 1712 – 1778), sinh ra ở Geneva Thụy Sĩ, ông là nhà triết học, nhà giáo dục học nổi tiếng, ông kịch liệt phê phán nhà trường đương thời lạm dụng lời nói. Ông đã lớn tiếng rằng: “ Đồ vật, đồ vật – hãy đưa ra đồ vật.
Tôi không ngừng nhắc đi nhắc lại rằng, chúng ta lạm dụng quá mức lời nói. Bằng cách giảng ba hoa, chúng ta chỉ đào tạo nên con người ba hoa”.Pestalozzi (1746 – 1827), là nhà cải cách giáo dục người Thụy Sĩ, ông khẳng định rằng, nguyên tắc cao nhất của dạy học là đảm bảo tính trực quan. Theo ông, tri giác cảm tính là nguồn gốc của nhận thức. Do đó, ông chú ý phát triển óc quan sát, tính tò mò ham hiểu biết, năng lực tính toán , đo lường, năng khiếu ngôn ngữ của trẻ.
Ông cho rằng việc quan sát sự vật, hiện tượng và diễn tả nội dung quan 6 Luan van sát đó bằng ngôn ngữ là nền tảng của sự phát triển trí tuệ. Khi phát triển tư tưởng của Komensky và Rousseau về tính trực quan của dạy học, Pestalozzi nhìn thấy ở tính trực quan không chỉ có phương tiện nhận thức mà còn có con đường làm phát triển trí tuệ của học sinh. Ushinskij (1824 – 1870), nhà sư phạm dân chủ người Nga, người sáng lập khoa học giáo dục Nga, ông đã xây dựng việc dạy học trực quan trên cơ sở tâm lý học. Theo ông ,“ Đó là việc dạy học không dựa trên những biểu tượng và trừu tượng mà dựa trên những hình ảnh cụ thể do học sinh trực tiếp tri giác được: những hình ảnh này hoặc do học sinh tri giác ngay khi học dưới sự hướng dẫn của giáo viên hoặc do các em độc lập quan sát trước đó.
Giáo viên sẽ tìm ở các em những hình ảnh có sẳn mà dạy. Tiến trình dạy học này đi từ cụ thể đến trừu tượng, từ biểu tượng đến tư tưởng là tiến trình hợp tự nhiên và dựa vào những quy luật tâm lý xác định, đến nổi không ai có thể phủ nhận sự cần thiết phải dạy học theo kiểu đó”. Vào năm 1905, trung tâm media đầu tiên ở Mỹ sưu tầm đồ dùng dạy học bao gồm các đồ vật, mô hình, bản đồ,… Đầu thế kỷ XX, ở hoa kỳ bắt đầu dạy học bằng hình ảnh (visual), rồi vào thập niên 1920 và 1930 có âm thanh (audio). Về sau nhiều phim ảnh được đưa vào lớp học (phim kịch, phim khoa học và lịch sử).
Đến đầu những năm 1940, có trung tâm giáo dục theo chương trình ở Mỹ (1943). Năm 1946, kế hoạch dạy học nghe nhìn được thực hiện ở trường Đại học Indina – Hoa kỳ. Trong thế chiến thứ 2, có nhiều phim huấn luyện được dùng trong giáo dục quân sự. Từ đầu thập kỷ 40 đến thập kỷ 50, nhiều phương tiện công nghệ trình bày thông tin (chữ viết, âm thanh, hình ảnh,.) như đèn chiếu , phim ảnh ngày được sử dụng rộng rãi trong giáo dục và đào tạo ở khắp châu Âu, Mỹ.
Giai đoạn này chưa có sự phát triển mạnh của công nghệ máy tính, chỉ mới bắt đầu có sự ra đời của phần cứng. Máy tính cồng kềnh đầu tiên ra đời vào năm 1946, thế hệ máy tính đầu tiên I thế hệ chân không. Ở thập kỷ 50, truyền hình có nhiều kênh phục vụ học tập (khám phá, lịch sử…). kết hợp khoa học nghe nhìn với lý thuyết học tập, đánh dấu một bước ngoặc ra đời của công nghệ dạy học hiện đại, từ đó xuất hiện máy dạy học (Teaching Machines); cũng giai đoạn này ra đời máy tính thế hệ 2.
7 Luan van Giai đoạn 1950 đên 1960, phương tiện truyền thông trong dạy học có nhiều thay đổi, phát triển mạnh mẽ hơn, sử dụng nhiều dạng media khác nhau. Các chuyên gia media trở thành quan trọng ở trường học, họ quan tâm tìm kiếm các dạng media mới, xem lại bản chất của khoa học nghe nhìn và media. Media trở thành một phần quan trọng của công nghệ dạy học. Vào thập niên 70, khoa học về máy tính xuất hiện chips - thế hệ 4, cuối thập niên 70 phát triển quy mô lớn.
Năm 1976 máy tính cá nhân Apple đầu tiên ra đời, phát triển nhanh công nghệ ứng dung máy tính vào dạy học. Giai đoạn 1980 đên 1990 , có thêm nhiều dạng thông tin mới , hình ảnh tĩnh, động, hoạt hình trở nên phổ biến hơn , băng đĩa nhạc, video,…Đối với công nghệ máy tính, giai đoạn này phát triển mạnh, nhiều phần mềm, công cụ máy tính ra đời như : word, excel, cơ sở dữ liệu, … Từ đầu thập kỷ 80 có sự đặc trưng bởi sự thành lập các phòng thực nghiệm máy tính và lớp học theo đĩa. Giai đoạn từ sau năm 1990, Media kỹ thuật số phát triển nhanh, tích hợp vào máy tính, Multimedia, đồ họa, hình ảnh, âm thanh CD, video đều được kỹ thuật số hóa. Công nghệ thông tin và máy tính phát triển mạnh mẽ, ảnh hưởng đến giáo dục.
Sự phát triển của phần mềm dạy học và phần mềm dạy học thông minh, học trong môi trường tương tác đa phương tiện có sự hỗ trợ của máy tính phát triển rất nhanh, đặc biệt là mạng internet là phương tiện dạy học phục vụ đắc lực cho đào tạo từ xa. * Trong đào tạo lái xe: Hoa kỳ : nhóm tác giả như: Justin Morgan (2008) và các đồng sự của ông, trong tài liệu Driver Opinions of Simulator-Based Commercial Driver Training , nghiên cứu đánh giá về hiệu quả của việc đào tạo lái xe dựa trên thiết bị mô phỏng. Theo nghiên cứu này, các học viên sẽ lái xe bằng phương tiện mô phỏng và xử lý các tính huống gần giống như đang lái xe trên đường thông qua các chương trình cài đặt trên máy vi tính, sẽ giảm được chi phí và lái xe trong môi trường an toàn. Bồ Đào Nha: Nhóm tác giả khác gồm: J.
Miguel Leitão (1997) và các đồng sự, trong tài liệu Evaluation of Driving Education Methods in a Driving Simulator , nghiên cứu đánh giá phương pháp dạy lái xe bằng thiết bị mô phỏng. Phương pháp đào tạo lái xe theo dạng này có nhiều ưu điểm so với phương pháp dạy truyền 8 Luan van thống, người lái xe trên phương tiện mô phỏng không gặp nguy hiểm với việc xử lý tình huống như đang lái xe trên đường thực tế. Nhật Bản: Từ năm 1988, hãng Honda đã bắt tay vào nghiên cứu và phát triển “Mô hình lái xe an toàn dành cho xe gắn máy đầu tiên trên thế giới”. Thời đó, chỉ có những thiết bị mô phỏng lái xe an toàn cực lớn dành cho ôtô và chưa có bất kỳ thông tin nào liên quan đến loại thiết bị như vậy dành cho xe máy.
Hơn nữa, đối với xe gắn máy, việc hướng dẫn, giảng dạy trong điều kiện thực tế cực kỳ khó khăn, vì rất khó sắp xếp người hướng dẫn đi cùng xe với học viên. Và “Thiết bị mô phỏng lái xe an toàn” đã được nghiên cứu, phát triển với mục đích giúp mọi người trải nghiệm mọi tình huống có thể xảy ra trong khi điều khiển xe, nâng cao khả năng phán đoán tình huống nguy hiểm. Năm 1989, thiết bị đầu tiên (PlotType) đã ra đời, nhưng do gặp phải những vấn đề về kích thước (quá to) hay cảm giác tăng tốc không thật nên đến năm 1996 thiết bị sản xuất hàng loạt đầu tiên mới được xuất xưởng. Từ đó tới nay, thiết bị này được trang bị phổ biến tại rất nhiều trung tâm hướng dẫn lái xe ở Nhật Bản cũng như một số nước khác, trong đó có Việt Nam.
Ngoài “Thiết bị mô phỏng lái xe an toàn” cỡ lớn, Honda còn nghiên cứu, phát triển “Thiết bị hướng dẫn lái xe an toàn” đơn giản với giá thành thấp để trang bị cho từng cửa hàng do công ty ủy nhiệm, nhằm phổ cập kiến thức về an toàn giao thông, nâng cao khả năng phán đoán tình huống nguy hiểm. Thiết bị loại này đã được đưa vào sử dụng thực tế từ năm 2005 và hiện có mặt tại các cửa hàng Honda trên toàn thế giới. Và tại rất nhiều cửa hàng Honda tại ViệtNam, thiết bị này đang góp phần nâng cao kỹ năng điều khiển và ý thức an toàn giao thông cho người đi xe. * Trong nước: Dân gian Việt Nam có câu : “ Trăm nghe không bằng một thấy ”, điều này chứng tỏ rằng ông cha ta rất chú trọng đến vai trò trực quan trong quá trình nhận thức.
Theo Bùi Minh Hiền (2004), phong trào đấu tranh chống nền giáo dục nô dịch do các sĩ phu yêu nước lãnh đạo đầu thế kỷ XX (phong trào đông kinh nghĩa thục), một nét mới trong phương pháp của nhà trường lúc bấy giờ là đã sử dụng một 9 Luan van số phương tiện trực quan trong dạy học (nhất là khi giảng dạy về địa lý và lịch sử).