CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Tổng quan lịch sử của đề tài : 1.1 Lịch sử đề tài nghiên cứu: Đạo luật giáo dục năm 1944 lần đầu tiên đề ra ba giai đoạn của giáo dục ( tiểu học, trung học và sau trung học), thiết lập việc cung ứng trường mẫu giáo và nâng độ tuổi rời ghế nhà trường mẫu giáo và nâng độ tuổi rời ghế nhà trường lên 15 tuổi (năm 1947 mới thực hiện). Nâng độ tuổi ra trường tức là phải cung cấp hơn 400.000 chỗ học và một nửa trong số này được trang bị theo luật Hutting về việc nâng độ tuổi rời trường. Những trường học ở thành thị đầu tiên được thiết kế dựa trên dạng trường căn bản ở Anh ( có một đặc điểm chung là hội trường trung tâm , từ đó dẫn đến lớp học ở xung quanh).
Trong những năm đầu tiên của thế kỷ 20, môi trường không trong lành của các trường ở thành thị đã dẫn đến yêu cầu về thông gió, chiếu sáng, vệ sinh và sự xuất hiện của “ trường học ngoài trời”. Do đó khuôn viên các trường học ngày càng được mở rộng. Sau chiến tranh thế giới thứ hai, việc sử dụng những cấu kiện tiền chế trở nên cần thiết để đáp ứng nhu cầu xây dựng và những năm cuối của thập niên 40 đến những năm đầu của thâp niên 70, các công trình “ hệ thống ” hoặc “ công nghiệp hóa” được sử dụng rộng rãi. Việc nâng độ tuổi rời trường từ 15 lên 16 tuổi vào năm 1971 cùng với việc tăng dân số do sinh đẻ bùng phát đòi hỏi phải gia tăng các chương trình xây dựng trường học vào giai đoạn đó.
Những năm 1960 diện tích lưu thông đi lại còn được dùng cả cho việc giảng dạy để tận dụng ngân sách một cách tốt nhất, kết quả là bố cục phòng ốc sâu thêm. Diện tích dùng chung trở nên khó sử dụng vì hội trường trung tâm ở các trường được xây dựng trước đó 100 năm, do đó ánh sáng tự nhiên và hệ thống thông gió thường không đủ đối với các phòng có chiều sâu. 6 Vào những năm 1980, lượng học sinh đến trường bị giảm đáng kể và các ban giáo dục địa phương phải điều chỉnh để giảm chỗ học tại các trường hiện có. Với đạo luật cải cách giáo dục năm 1988 có thêm loại trường trung cấp kỹ thuật thành phố và trường tự quản và vào năm 1995 hơn 1.000 trường (hầu hết là trường trung học) được chính phủ tài trợ trực tiếp thông qua cơ quan tài trợ các Trường học ( FAS) Từ tháng 09/1999, tất cả trường công đều thuộc một trong ba loại sau: “ trường cộng đồng” ( trước đây do ban giáo dục chính quyền địa phương quản lý, “trường cơ sở” (hầu hết trước đây do chính phủ tài trợ) và “ trường do tổ chức từ thiện tài trợ” 15 trường trung cấp kỹ thuật thành phố không nằm trong cơ cấu này.
Lịch sử giáo dục mầm non,nhà trẻ Theo luật định mới đây, giáo dục mầm non là quyền lợi đối với tất cả trẻ 4 tuổi, nếu phụ huynh mong muốn. Trong thực tế,một tỷ lệ đáng kể các cháu trong độ tuổi này đã vào các lớp mẫu giáo trong các trường tiểu học, các trường mẫu giáo riêng biệt và các tổ chức nhà trẻ khác ( VD: nhóm sinh hoạt trẻ em và nhóm giữ trẻ ban ngày) những nơi này cũng nhận trẻ ở độ tuổi từ 2 đến 4 tuổi và thường thì nhỏ hơn. Các trường mẫu giáo được giám sát bởi thanh tra Nhà nước, dựa trên mong muốn của phụ huynh về chất lượng đầu ra , qua những hoạt động phát triển kỹ năng cá nhân, xã hội, thể chất và sáng tạo. Giáo dục mẫu giáo chủ yếu thông qua vườn trẻ hoặc lớp học trước tuổi đi học.
Bộ giáo dục Viêt Nam đã ban hành đề cương giáo dục mẫu giáo căn cứ năng lực trưởng thành và đặc điểm tâm lý của trẻ em ở độ tuổi khác nhau. Các trường giáo dục mẫu giáo tiến hành giáo dục và bồi dưỡng về mặt nhận biết, ngôn ngữ, con số, thói quen sinh hoạt v.v đối với các em theo đề cương giáo dục. Thông thường vườn trẻ nhận trẻ em từ 3 đến 6 tuổi, cũng có vườn trẻ có thể nhận trẻ em tuổi nhỏ hơn. Hiện nay, Việt Nam có khoảng 100 nghìn vườn trẻ, chỉ có hơn 30% trẻ em ở độ tuổi thích hợp tiếp thu giáo dục ở ngành giáo dục, còn lại do nguyên nhân tuổi tác, kinh tế v.v phần lớn ở trong tình trạng do phụ huynh trông nom hay gởi trẻ tới các nhà trông nom trẻ tự phát.
7 Vườn trẻ Việt Nam chia làm hai loại công lập và dân lập. Vườn trẻ công lập phần lớn được thành lập thời gian dài, có kinh nghiệm giáo dục và mô thức chín muồi, học phí thấp; vườn trẻ dân lập thu phí cao, có đặc điểm riêng của mình, đồng thời có thể kịp thời điều chỉnh nội dung, phương pháp giáo dục v.v theo nhu cầu thị trường. Theo đà phát triển kinh tế thị trường, vườn trẻ dân lập dần dần tăng nhiều lên, hiện nay chiếm khoảng 60%. Các môn học tiêu biểu được dạy trong 4 giai đoạn chủ yếu ở các trường chính quy.
Các môn học chính là anh văn, toán, khoa học và ngôn ngữ học. Lịch học tiêu biểu trong chương trình tùy thuộc vào các lứa tuổi riêng của trẻ Khái niệm mầm non và nhà trẻ : Ở phương tây có nhiều công trình khác nhau dành cho trẻ em trước tuổi đến trường theo điều kiện khí hậu mùa đông, mùa hè. Ở Việt Nam thiết kế xây dựng nhà trẻ- mẫu giáo theo mẫu số chung thu nhận trẻ lưu trú không quá từ 10 đến 12h mỗi ngày. Có cơ sở thu nhận các cháu cả ngày đêm suốt 6 ngày trong tuần.
Thông thường người ta phân thành các nhóm trẻ, mỗi nhóm khoảng từ 20 đến 26 cháu để dễ dàng quản lý, chăm nuôi và giáo dục. Quy mô nhà trẻ - mẫu giáo tùy thuộc mỗi nơi trung bình từ 4 đến 6 nhóm, lớn từ 7 đến 10 nhóm hoặc hơn. Hiện tại về mặt quy hoạch quản lý giáo dục người ta phân chia thành nhà trẻ và nhà mẫu giáo riêng. Quy chế tổ chức và hoạt động trường mầm non tư thục : Ban hành kèm theo Quyết định số 41 /2008/QĐ/BGDĐT ngày 25 tháng 7 năm 2008 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Điều 1.
Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng 1. Quy chế này quy định tổ chức và hoạt động trường mầm non tư thục, bao gồm: Thành lập, sáp nhập, chia, tách, đình chỉ hoạt động, giải thể nhà trường, nhà trẻ, nhóm trẻ, lớp mẫu giáo độc lập tư thục; Cơ cấu tổ chức quản lý và hoạt động; Tài chính, tài sản; Giáo viên, nhân viên và trẻ em; Thanh tra, kiểm tra, khen thưởng và xử lý vi phạm. Quy chế này áp dụng đối với trường mầm non, trường mẫu giáo (sau đây gọi chung là nhà trường), nhà trẻ, nhóm trẻ, lớp mẫu giáo độc lập thuộc loại hình tư thục; tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động giáo dục mầm non tư thục. Nhà trường, nhà trẻ, nhóm trẻ, lớp mẫu giáo độc lập tư thục được tổ chức và hoạt động theo quy định của Điều lệ trường mầm non và Quy chế này.
Vị trí của nhà trường, nhà trẻ, nhóm trẻ, lớp mẫu giáo độc lập tư thục 1. Nhà trường, nhà trẻ, nhóm trẻ, lớp mẫu giáo độc lập tư thục là cơ sở giáo dục mầm non thuộc hệ thống giáo dục quốc dân của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, do tổ chức xã hội, tổ chức xã hội-nghề nghiệp, tổ chức kinh tế hoặc cá nhân thành lập khi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép. Nguồn đầu tư xây dựng cơ sở vật chất và bảo đảm kinh phí hoạt động là nguồn vốn ngoài ngân sách nhà nước. Nhà trường, nhà trẻ tư thục, có tư cách pháp nhân, con dấu và được mở tài khoản riêng.
Nhiệm vụ, quyền hạn của nhà trường, nhà trẻ, nhóm trẻ, lớp mẫu giáo độc lập tư thục 1. Tổ chức thực hiện việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em từ ba tháng tuổi đến sáu tuổi theo chương trình giáo dục mầm non do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành. Huy động trẻ em lứa tuổi mầm non đến trường; tổ chức giáo dục hoà nhập cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn. Quản lý cán bộ, giáo viên, nhân viên thực hiện nhiệm vụ nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục trẻ em.
Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực theo quy định của pháp luật. Xây dựng cơ sở vật chất, thiết bị theo yêu cầu chuẩn hoá, hiện đại hoá hoặc theo yêu cầu tối thiểu đối với vùng khó khăn. Phối hợp với gia đình trẻ em, tổ chức và cá nhân để thực hiện hoạt động nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục trẻ em. Tổ chức cho cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên và trẻ em tham gia các hoạt động xã hội trong cộng đồng.
Thực hiện kiểm định chất lượng nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục trẻ em theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Tự chủ và tự chịu trách nhiệm về quy hoạch, kế hoạch phát triển, tổ chức các hoạt động 9 giáo dục, xây dựng và phát triển đội ngũ giáo viên, huy động, sử dụng và quản lý các nguồn lực để thực hiện mục tiêu giáo dục mầm non, góp phần cùng Nhà nước chăm lo sự nghiệp giáo dục, đáp ứng yêu cầu xã hội. Có trách nhiệm báo cáo định kỳ và đột xuất theo quy định và yêu cầu của các cơ quan có liên quan. Thực hiện các nhiệm vụ và quyền hạn khác theo quy định của pháp luật.
Chính sách ưu đãi đối với nhà trường, nhà trẻ, nhóm trẻ, lớp mẫu giáo độc lập tư thục 1. Nhà trường, nhà trẻ, nhóm trẻ, lớp mẫu giáo độc lập tư thục được Nhà nước giao hoặc cho thuê đất, cơ sở vật chất, hỗ trợ ngân sách khi thực hiện nhiệm vụ do Nhà nước giao, được hưởng các chính sách ưu đãi về thuế, tín dụng và chính sách khác theo quy định của Chính phủ. Nhà trường, nhà trẻ, nhóm trẻ, lớp mẫu giáo độc lập tư thục được hưởng chính sách ưu đãi theo quy định hiện hành của Chính phủ về khuyến khích phát triển các cơ sở cung ứng dịch vụ ngoài công lập. Phân cấp quản lý đối với nhà trường, nhà trẻ, nhóm trẻ, lớp mẫu giáo độc lập tư thục 1.
Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là Uỷ ban nhân dân cấp xã) quản lý nhà trường, nhà trẻ, nhóm trẻ, lớp mẫu giáo độc lập tư thục trên địa bàn.