CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN Noäi dung ñeà taøi 3 Luan van Nghieân cöùu,thieát keá module cuûng coá kieán thöùc caùc baøi thöïc haønh cho moân Thöïc taäp may cô baûn 1.1 Các lĩnh vực đánh giá kết quả học tập trong đào tạo nghề 1.1 Đánh giá kiến thức Mục đích đánh giá kiến thức là xác định xem người dự thi đã biết gì, ở mức độ nào trong các nội dung đã học, tức là xác định trình độ kiến thức của người dự thi. Hiện nay, trong đào tạo nghề theo năng lực thực hiện người ta sử dụng bảng phân loại mục tiêu giáo dục (dạy học) của S. Bloom, trong đó lĩnh vực nhận thức (Cognitive domain) được chia thành 6 mức độ từ 1 (là thấp nhất) đến 6 (là cao nhất): Bảng 1.2: Các mức độ mục tiêu về nhận thức theo S. Bloom Mức độ Định nghĩa Áp dụng các nguyên lý, định luật vào các trường 6.
Đánh giá (Evaluation) hợp để đưa ra các giải pháp mới và so sánh chúng với các giải pháp đã biết, có phê phán, lập luận Áp dụng các nguyên lý, định luật vào trường hợp 5. Tổng hợp (Synthesis) phức hợp để trình bày một giải pháp mới Áp dụng các nguyên lý, định luật vào các trường 4. Phân tích (Analysis) hợp riêng biệt phức tạp 3. Ứng dụng Áp dụng các nguyên lý, định luật vào các trường (Application) hợp riêng biệt đơn giản 2.
Thông hiểu Trình bày, giải thích, so sánh được ý nghĩa của các sự kiện (Comprehension) 1. Biết (Knowledege) Tái hiện, nhắc lại các sự kiện Dựa vào các mức độ mục tiêu về nhận thức, các tiêu chuẩn kiến thức và các tiêu chuẩn kỹ năng trong tiêu chuẩn kỹ năng nghề để: - Xác định loại câu hỏi phù hợp với các mức độ mục tiêu nhận thức; - Số lượng câu hỏi phù hợp với mỗi mức độ mục tiêu - Biên soạn các câu hỏi trắc nghiệm. Noäi dung ñeà taøi 4 Luan van Nghieân cöùu,thieát keá module cuûng coá kieán thöùc caùc baøi thöïc haønh cho moân Thöïc taäp may cô baûn Trong quá trình dạy học, căn cứ trên ba mức độ: 1) Biết, 2) Thông hiểu, và 3) Ứng dụng là ba loại mục tiêu lớn thường được khảo sát bằng các bài trắc nghiệm ở lớp học, giáo viên sẽ biên soạn các câu trắc nghiệm nhằm đánh giá lĩnh vực nhận thức của học sinh.2 Đánh giá kỹ năng Các mục tiêu về kỹ năng trong giáo dục nghề nghiệp có thể là một qui trình, một sản phẩm hoặc cả hai. Điều quan trọng là phải lựa chọn công cụ đánh giá nào đo được một cách hiệu quả các khía cạnh quan trọng nhất của mỗi mục tiêu đó.
Việc xác định trình độ kỹ năng của học sinh có thể được thực hiện thông qua việc đánh giá quá trình thực hiện bằng công cụ là “danh mục kiểm tra” (checklist) và đánh giá sản phẩm bằng công cụ là “thang điểm” (rating scale) hoặc bằng cả hai. Như vậy đánh giá kỹ năng trong dạy học là đánh giá mức độ đạt được của mục tiêu kỹ năng thông qua các công cụ đánh giá. Mục đích đánh giá kỹ năng là xác định xem người học đã làm được gì, ở mức độ nào trong các nội dung đã học. Kết quả học tập về kỹ năng cần được đánh giá bao gồm hai loại chính, đó là: 1) kỹ năng thể chất tâm vận: liên quan đến thao tác, động tác lao động chân tay; 2) kỹ năng trí tuệ: liên quan đến các thao tác tư duy1.
Kỹ năng thể chất tâm vận, được kiểm tra, đánh giá thông qua việc đánh giá quy trình thực hiện và đánh giá sản phẩm 1.1 Đánh giá quy trình thực hiện Đó là đánh giá sự tuân thủ đúng quy trình công nghệ, sự chuẩn xác của từng bước trong quy trình thực hiện công việc,…. Đánh giá quy trình thực hiện khi: - Cần biết người học có thể sử dụng dụng cụ hoặc thiết bị một cách hợp lý hay không; - Thời gian để thực hiện công việc là quan trọng; - Có những nguy hiểm về sức khỏe và an toàn trong quá trình thực hiện công việc; - Nếu quy trình được thực hiện sai hoặc không hợp lý sẽ có thể dẫn đến những sai sót về mặt chuyên môn, công nghệ hoặc gây ra tốn kém về nguyên vật liệu.2 Đánh giá sản phẩm 1 Nguyễn Đức Trí, Hoàng Anh (2008): Quy trình, phương pháp xây dựng ngân hàng câu hỏi, đề thi và tổ chức đánh giá kiến thức nghề. NXB Tổng cục dạy nghề. Noäi dung ñeà taøi 5 Luan van Nghieân cöùu,thieát keá module cuûng coá kieán thöùc caùc baøi thöïc haønh cho moân Thöïc taäp may cô baûn Khái niệm sản phẩm được định nghĩa là vật thể được tạo ra hoặc dịch vụ được cung cấp sau khi thực hiện một công việc.
Sản phẩm có thể là một đồ vật có thể nhìn thấy, có thể nếm và ngửi thấy (thức ăn), có thể nghe và cảm nhận (âm nhạc),…Sản phẩm cũng có thể là một dịch vụ, ở đây không có sản phẩm cụ thể mà chỉ có dịch vụ được thực hiện. Việc đánh giá kỹ năng phụ thuộc vào mục tiêu học tập cụ thể cần đạt được theo các khía cạnh khác nhau: Quy trình thực hiện công việc, sản phẩm làm ra, thời gian thực hiện (năng suất), an toàn, thái độ liên quan,…Thông thường người ta đánh giá kỹ năng thông qua đánh giá việc thực hiện quy trình, đánh giá sản phẩm hoặc cả hai. Điều quan trọng là cần lựa chọn hoặc thiết kế đúng công cụ đánh giá để làm sao đo được một cách hiệu quả kết quả thực hiện kỹ năng đó.2 Quy trình xây dựng module củng cố kiến thức 1.1Xác định trình độ học sinh Học sinh học năm nhất, hệ Trung cấp chuyên nghiệp, chuyên ngành May công nghiệp.2Phân tích mục tiêu kiến thức môn học Xác định mục tiêu kiến thức, kỹ năng của từng bài thực tập cụ thể.3Xác định nội dung kiểm tra, đánh giá Điểm khác biệt cơ bản giữa người giáo viên soạn đề thi trắc nghiệm theo lối mò mẫm tự phát chủ quan với người giáo viên soạn đúng phương pháp khoa học là ở chỗ xác định đúng được các mục tiêu kiểm tra để viết ra câu hỏi trắc nghiệm. Hơn nữa, qua việc xác định các mục tiêu cụ thể người giáo viên sẽ lượng được chính xác các câu trắc nghiệm của môn học và loại trắc nghiệm cần soạn thảo.
Vì vậy các mục tiêu được dùng làm căn bản cho việc soạn một bài trắc nghiệm cần phải được người soạn hiểu thật kỹ và thật rõ ràng. Dương Thiệu Tống, 3 mức độ mục tiêu kiến thức, thông hiểu và ứng dụng thường được khảo sát bằng các bài trắc nghiệm ở lớp học. Kiến thức: là khả năng của học sinh nhớ hay nhận ra các sự kiện, các thuật ngữ, các tiêu chuẩn… mà không cần giải thích. Đây là mức độ thành quả thấp nhất trong lĩnh vực nhận thức, vì nó đòi hỏi sự vận dụng trí nhớ mà thôi.
Thông hiểu: hiểu bao gồm cả biết nhưng ở mức độ cao hơn là trí nhớ nó đòi hỏi học sinh viết được cả ý nghĩa của tri thức và biết liên hệ với những gì họ đã học, đã biết. Noäi dung ñeà taøi 6 Luan van Nghieân cöùu,thieát keá module cuûng coá kieán thöùc caùc baøi thöïc haønh cho moân Thöïc taäp may cô baûn Có 3 cách để thể hiện chữ hiểu của học sinh trong nhận thức Chuyển dịch: học sinh có thể truyền đạt lại thông tin thu nhận được bằng một nguồn khác, bằng các thuật ngữ hay bằng một hình thức khác của thông tin. Giải thích: học sinh có thể sắp xếp lại các ý tưởng thành một dạng mới trong đầu của mình, suy nghĩ về tính quan trọng của các ý tưởng có liên quan, mối liên hệ bên trong của chúng và sự thích hợp của chúng với các khái quát hóa được hiểu ngầm hay mô tả thông tin trong đầu. Sự giải thích có liên quan thể hiện qua suy diễn khái quát hóa hay tóm tắt do học sinh đề ra.
Ngoại suy: sự đánh giá hay dự đoán dựa trên hiểu biết khuynh hướng, chiều hướng hay điều kiện được mô tả trong thông tin. Nó có thể bao gồm suy diễn các hệ quả phù hợp với những điều được mô tả trong thông tin. Ứng dụng: sự vận dụng dựa trên sự thông hiểu là mức độ nhận thức cao hơn sự thông hiểu. Khi vận dụng học sinh phải căn cứ vào những hoàn cảnh hoặc điều kiện cụ thể để lựa chọn, sử dụng những tri thức đã học vào việc giải quyết vấn để đó.
Bên cạnh đó, học sinh cũng cần xác định được mốc kiểm, điểm khóa trong từng quy trình may để thực hành may sản phẩm đạt yêu cầu kỹ thuật. Mốc kiểm Cho biết cần phải kiểm tra trước khi tiến hành bước kế tiếp. Nếu sơ sót không kiểm tra, dù có tiến hành các bước kế tiếp đúng kỹ thuật, kết quả thực hiện cũng không đạt yêu cầu.Vai trò kiểm tra ở đây rất quan trọng, nó quyết định kết quả thực hành. Điểm khóa Là chi tiết cần lưu ý nói lên trình độ thành thạo tay nghề.
Nếu bỏ qua chi tiết này thì cũng không ảnh hưởng gì đến kết quả thực hành, nhưng nếu thực hiện được điểm khóa thì kết quả sẽ tốt hơn.4 Biên soạn các câu trắc nghiệm Tính tin cậy của bài trắc nghiệm biểu hiện sự ổn định của điểm số đo lường, trong khi tính giá trị của bài trắc nghiệm nói lên được mức độ phù hợp của việc đo lường đối với đối tượng khảo sát. Tính tin cậy là tiền đề cho tính giá trị của bài trắc nghiệm. Với mục đích chính là củng cố kiến thức lý thuyết nhằm giúp học sinh hiểu rõ từng quy trình may, xác định được mốc kiểm, điểm khóa của từng bài tập. Trong đó tính tin cậy của bài trắc nghiệm không phải là yếu tố quan trọng nhất.
Điểm số mà Noäi dung ñeà taøi 7 Luan van Nghieân cöùu,thieát keá module cuûng coá kieán thöùc caùc baøi thöïc haønh cho moân Thöïc taäp may cô baûn người học đạt được nhằm mục đích chính là cho người học biết được phần trăm kiến thức mà người học đạt được. Tính giá trị của bài trắc nghiệm rất quan trọng vì nó đo đúng những gì mà học sinh học được theo mục tiêu đề ra. Trong một bài trắc nghiệm có thể có nhiều hình thức câu trắc nghiệm, nhưng thông dụng nhất là loại trắc nghiệm có nhiều lựa chọn, trắc nghiệm đúng – sai, trắc nghiệm đối chiếu cặp đôi và trắc nghiệm điền khuyết. Tác giả chỉ sử dụng 3 loại câu hỏi trắc nghiệm cho đề tài nghiên cứu của mình và chỉ giới thiệu một vài đặc điểm cơ bản của mỗi loại.