CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Cơ sở lý luận của đề tài 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Các công trình nghiên cứu trên thế giới Cho trẻ làm quen với thiên nhiên, với thế giới con người và hoạt động của họ, nói cách khác là cho trẻ làm quen với tất cả những gì của thế giới khách quan là nhiệm vụ mà nhân loại phải giải quyết từ khi nhận thức được sự cần thiết phải truyền lại cho thế hệ sau kinh nghiệm của thế hệ trước.
Môi trường xung quanh như một phương tiện giáo dục trẻ em và từ lâu nó đã được các nhà giáo dục trên thế giới quan tâm. Các nhà giáo dục lớn trên thế giới như: J.v… đã nhấn mạnh vai trò lớn của thiên nhiên đối với sự phát triển năng lực trí tuệ của con người. Các tác giả đã đánh giá cao vai trò của quan sát, tiếp xúc với thiên nhiên, xã hội đối với việc lĩnh hội kiến thức và phát triển trí tuệ trẻ em. Ruxô (1712 – 1778) – nhà giáo dục học người Pháp đã gọi thời kỳ từ 2 đến 12 tuổi là thời kỳ của các giác quan.
Ông cho rằng tri thức của trẻ được hình thành bằng cách tiếp xúc với đồ vật và qua hoạt động thực tiễn.Chính trong quá trình tiếp cận với thế giới xung quanh mà tri thức của trẻ được hình thành. Ở Nga từ những năm 20 đến 30 của thế kỷ XX, các nhà giáo dục học đã cố gắng lôi cuốn trẻ vào cuộc sống xung quanh; giới thiệu với trẻ tất cả những sự kiện của cuộc sống. Trong “Văn bản về phương pháp” có thể coi là chương trình giáo dục mầm non đầu tiên ở Nga, đã xác định khối lượng, nội dung kiến thức về môi trường xung quanh, kể cả các sự kiện chính trị xã hội nổi bật. Vào thời đầu của khoa học – kỹ thuật hiện đại, Francis Bacon (1561 – 1626) nêu công thức ngắn gọn và cấp tiến: “tri thức là sức mạnh”.
Một thế hệ sau Bacon, René Descartes (1596 – 1650), ông tổ đích thực của tư tưởng cận đại, đề ra yêu cầu: nhờ vào sự trợ giúp của khoa học và kỹ 11 thuật, con người phải và có thể trở thành “chủ nhân và chủ sở hữu của thiên nhiên”. Bacon và Descartes, về căn bản, chỉ xác định bản chất của hoạt động khoa học và hành động kỹ thuật. Mục tiêu bản chất của kỹ thuật tất yếu hướng đến sự thống trị: cần phải buộc thiên nhiên (và tất nhiên cả con người) chấp nhận tuân theo những quá trình không tự nguyện. Đi tìm hiểu về việc cho trẻ thực hành trải nghiệm trong hoạt động khám phá khoa học thì trong bài viết về Khám phá khoa học với trẻ của Janet Humphryes cũng có đề cập qua vấn đề này, ông cho rằng “Trẻ từ 0 – 6 tuổi luôn khám phá thế giới bằng giác quan, trẻ tiếp thu kiến thức tốt nhất thông qua các giác quan của mình.
Trẻ có thể hiểu tốt hơn khi chúng tham gia vào các hoạt động mà qua đó trẻ giao tiếp trực tiếp với thế giới tự nhiên. Khi giảng dạy, giáo viên phải dựa vào những gì trẻ hứng thú và muốn tìm hiểu. Là giáo viên điều tôi cần làm là giúp trẻ học cách sử dụng tốt hơn giác quan của mình để biến trẻ thành người quan sát giỏi hơn. Người lớn có thể giúp trẻ làm điều này bằng cách cho trẻ ra ngoài trời để trẻ được ở trong môi trường tự nhiên và dành cho trẻ thời gian để khám phá nhờ giác quan của mình”.
Với quan điểm của mình ông cho rằng hầu hết trẻ nhỏ mang sự tò mò và mong muốn tìm hiểu thế giới vào trong trường mầm non, vì vậy giáo viên cần hiểu rõ đặc điểm này để biến việc học khoa học của trẻ trở nên sôi động. Trong quá trình đó trẻ không những thu lượm được nền tảng của nền kiến thức phong phú, đa dạng mà đây còn là nền tảng quan trọng đầy ý nghĩa cho trẻ khám phá môi trường xung quanh. Tư tưởng của các nhà giáo dục học về vai trò của môi trường xung quanh đối với giáo dục trẻ em được phát triển mạnh mẽ trong các công trình nghiên cứu của các nhà tâm lí giáo dục Liên Xô (K. Ở Liên Xô trước kia, trong các chương trình đào tạo có mẫu giáo, lĩnh vực làm quen với môi trường thiên nhiên được đưa vào môn học: “Phương pháp cho trẻ làm quen với thiên nhiên” và sau năm 1980 có thêm một môn học mới, đó là: “Lí luận, phương 12 pháp cho trẻ làm quen với thực tiễn xã hội”.
Hiện nay ở Nga, môn Phương pháp cho trẻ làm quen với thiên nhiên được thay bằng Phương pháp giáo dục sinh thái. Đây là một xu hướng mới, xuất hiện vào cuối những năm 80 và những năm 90. Những quan điểm cơ bản trong cơ sở của giáo dục sinh thái bao gồm: Cơ thể sống và môi trường; quần xã sinh vật và môi trường; con người và môi trường.10] Ở một số nước khác trong chương trình giáo dục trẻ, một trong các lĩnh vực có liên quan nhiều đến nội dung, phương pháp tổ chức cho trẻ làm quen với môi trường xung quanh có tên là Khoa học (Khoa học là cách thức tìm hiểu thế giới xung quanh thông qua khám phá, thử nghiệm, phát hiện, giải thích, lập luận…). Kết quả của các hoạt động khám phá môi trường xung quanh là trẻ thu được một lượng nhỏ kiến thức khoa học đơn giản và quan trọng hơn là ở trẻ phát triển các năng lực cơ bản như quan sát, tư duy loogic, giải quyết vấn đề, hợp tác… [6, tr.
Các công trình nghiên cứu ở Việt Nam Vấn đề cho trẻ làm quen với môi trường xung quanh được các nhà giáo dục Việt Nam quan tâm đến từ những năm 50 – 60 của thế kỉ XX. Thời kì đó, cho trẻ làm quen với môi trường xung quanh được coi như phương tiện nhằm mục đích phát triển ngôn ngữ. Các nội dung làm quen với môi trường xung quanh được đưa vào phần “Nhận xét và tập nói” trong chương trình giáo dục mẫu giáo. Nội dung và phương pháp của phần này còn rất phiến diện và đơn điệu.
Sau ngày đất nước hoàn toàn thống nhất (1975) nội dung của “Nhận xét và tập nói” được bổ sung, cải tiến và mang tên gọi mới “Tìm hiểu môi trường xung quanh và tập nói”. Trong chương trình đào tạo giáo viên mầm non, nội dung trên được đưa vào môn “Phương pháp phát triển ngôn ngữ”.11] Từ những năm 1980, khi chương trình dự thảo và cải cách mẫu giáo được biên soạn thì “Làm quen với môi trường xung quanh” được tách ra như một lĩnh vực tương đối độc lập với tên gọi “Phương pháp cho trẻ làm quen với môi trường xung quanh”. Tên gọi này được duy trì trong chương trình đổi mới hình thức chăm sóc và nuôi dạy trẻ (2004). Trong chương trình giáo dục 13 mầm non sắp ban hành, làm quen với môi trường xung quanh được gọi là khám phá khoa học thuộc lĩnh vực phát triển nhận thức.
Trong chương trình đào tạo sinh viên ngành Sư phạm mầm non Phương pháp cho trẻ làm quen với môi trường xung quanh là một học phần nằm trong khối kiến thức chuyên ngành. Nội dung của học phần này kế thừa được những kinh nghiệm tiên tiến trước đây, khắc phục những hạn chế của chương trình cải cách chỉ nặng về cung cấp kiến thức mà ít có các hoạt động trải nghiệm, hoạt động thực tiễn nhằm phát triển năng lực cho trẻ; đồng thời cập nhật những kiến thức mới của các chương trình trên thế giới và thành tựu nghiên cứu khoa học trong và ngoài nước. Tác giả Trần Thị Ngọc Trâm, Nguyễn Thị Nga đã nhận thấy tầm quan trọng của hoạt động trải nghiệm và đã có những hoạt động khám phá khoa học về thực vật, khám phá khoa học về một số hiện tượng tự nhiên. Ở lứa tuổi này trẻ cần có nhiều cơ hội để khám phá, nên tạo cơ hội cho trẻ có những trải nghiệm để trẻ phát triển nhận thức qua việc tiếp xúc với môi trường gần gũi xung quanh.Trẻ có thể có được những kinh nghiệm qua sách, tranh ảnh và qua tiếp xúc, hoạt động với các nguyên vật liệu.
Các hoạt động với các nguyên vật liệu phối hợp với đàm thoại sẽ hỗ trợ quá trình phân loại, tiếp thu các thong tin và hình thành các ý tưởng của trẻ. Khám phá khoa học với trẻ nhỏ là quá trình trẻ tích cực tham gia hoạt động thăm dò, tìm hiểu thế giới tự nhiên. Đó là quá trình quan sát, so sánh, phân loại, thử nghiệm, dự đoán, suy luận, thảo luận, giải quyết vấn đề, đưa ra quyết định. Từ những hoạt động khám phá khoa học này nó sẽ phát triển triển ở trẻ tính tò mò và mong muốn khám phá mọi sự vật, hiện tượng xung quanh.Là cơ hội để trẻ bộc lộ nhu cầu và khả năng nhận thức của bản than.
Khi dạy, giáo viên không nhất thiết phải dạy hoặc giải thích những kiến thức khoa học cho trẻ mà chủ yếu là giúp trẻ suy nghĩ nhiều hơn về những gì chúng nhìn thấy và đang làm, kích thích trẻ quan sát, xem xét, dự đoán, suy luận về các sự vật hiện tượng xung quanh và thảo luận chia sẻ điều trẻ nhìn thấy, điều trẻ nghĩ hoặc điều còn băn khoăn, thắc 14 mắc. Trong quá trình đó trẻ thu lượm được những kiến thức hết sức phong phú, đa dạng khi được trải nghiệm khám phá môi trường xung quanh. [17] Theo tác giả Hoàng Thị Oanh, Nguyễn Thị Xuân thì khám phá khoa học về môi trường xung quanh là hoạt động thực sự hấp dẫn làm thỏa mãn nhu cầu nhận thức của trẻ, mở cho trẻ cánh cửa vào thế giới rộng lớn hơn. Đặc biệt, việc tổ chức các hoạt động trải nghiệm, khám phá môi trường xung quanh còn góp phần phát triển ở trẻ các phẩm chất trí tuệ như tính ham hiểu biết, khả năng chú ý ghi nhớ có chủ đinh, trẻ được tiếp xúc, trải nghiệm với các sự vật, hiện tượng của môi trường xung quanh.
Thông qua các hoạt động khám phá, trẻ thu được kinh nghiệm thực tiễn, những kiến thức đơn giản về đặc điểm, tính chất, các mối liên hệ, quan hệ, sự phát triển của các sự vật, hiện tượng trong thiên nhiên và trong xã hội.