Đặt vấn đề Hiện nay trên thế giới có rất nhiều người biết đến cá tra, cá basa của Việt Nam. Đó là một trong những ngành có thế mạnh ở Đồng Bằng Sông Cửu Long. Toàn vùng có 70 nhà máy chế biến cá tra, basa với tổng công suất ch ế biến khoảng 1,5 triệu tấn trên năm kim ngạch xuất khẩu tăng liên tục. Năm 2007 kim nghạch xuất khẩu đạt 1 tỷ USD là một trong những ngành xóa đói giảm nghèo.
Bên cạnh những lợi ích về mặt kinh tế cho toàn vùng nó cũng gây ra những thiệt hại to lớn về mặt môi trường.Vì các nhà máy chế biến chưa đảm bảo tiêu chuẩn xả thải, trong nước thải của ngành chế biến cá tra, basa có chứa hàm lượng chất hữu cơ, mỡ khá cao chưa được xử lý triệt để đã xả ra sông, tạo mùi hôi thối tanh tưởi. Mỡ cá trôi nổi trên bề mặt sông làm mất cảnh quan thiên nhiên, gây ô nhiễm một vùng nước rộng lớn là môi trường cho ruồi muỗi sinh sản và phát triển cũng là một trong những nguyên nhân gây bệnh đường ruột và bệnh hô hấp cho người dân sống xung quanh khu vực. Vì vấn đề lợi nhuận, hầu hết các nhà máy có hệ thống xử lý nước thải nhưng chỉ xử lý cầm chừng để chống đối, chưa xử lý hết lượng nước thải xả ra hoặc xử lý hết nhưng không đảm bảo đầu ra đạt TCVN. Trước hết, hơn ai khi dòng sông bị ô nhiễm thì ngư dân và doanh nghiệp chế biến sẽ bị thiệt hại trước tiên.
Chúng ta phải làm gì để Môi Trường Thủy Sản Đồng Bằng Sông Cửu Long tiếp tục phát triển bền vững? Một trong những biện pháp tích cực trong công tác bảo vệ môi trường và chống ô nhiễm nguồn nước là tổ chức thoát nước và xây dựng hệ thống xử lý nước thải đạt tiêu chuẩn trước khi xả vào nguồn tiếp nhận. Đề tài” Thiết kế hệ thống xử lý nước thải cho nhà máy chế biến cá tra, basa Gò Đàng” tôi xin góp một phần nhỏ bé trong công công tác bảo Môi Trường Thủy Sản Đồng Bằng Sông Cửu Long.2 Mục tiêu của luận văn Thiết kế hệ thống xử lý nước thải cho nhà máy chế biến cá tra, basa Gò Đàng để giảm thiểu các tác hại tới môi trường và phù hợp với điều kiện thực tế của nhà máy.3 Nội dung của luận văn Khảo sát, thu thập số liệu về nhà máy. Đánh giá tổng quan về công nghệ sản xuất, khả năng gây ô nhiễm môi trường đề xuất phương án xử lý nước thải. Tính toán công trình đơn vị xử lý nước thải.
Khái toán kinh phí xây dựng và vận hành. 7 Chương 2: TỔNG QUAN VỀ CÔNG NGHIỆP CHẾ BIẾN CÁ TRA, BASA 2. HIỆN TRẠNG VÀ TRIỂN VỌNG CÔNG NGHIỆP CHẾ BIẾN CÁ BASA Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG Công nghiệp chế biến cá tra, basa trong thời gian gần đây phát triển nhanh chóng và trở thành một trong những ngành kinh tế chủ lực của Việt Nam, nếu như năm 2000 tổng kim ngạch xuất khẩu chỉ đạt khoảng 150 triệu USD chiếm tỷ trọng 10% trong tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản 1.47 tỷ USD, năm 2005 kim ngạch xuất khẩu 300 triệu USD chiếm 11%, năm 2006 đã đạt 700 triệu USD chiếm khoảng 20% trong tổng kim ngạch xuất khẩu 3.36 tỷ USD Xuất khẩu cá tra, basa năm 2007 có thể vượt ngưỡng 1 tỷ USD tăng 300 triệu USD so với năm 2006 sảm phẩm cá tra, cá basa đã có mặt trên 65 Quốc gia. Thị trường xuất khẩu có tiềm năng lớn: Nhật Bản, Châu Âu, Nga, Mỹ, Canada.
đồng thời phát triển mạnh thị trường mới. Hướng Việt Nam trở thành các quốc gia chế biến và xuất khẩu thủy sản hàng đầu thế giới. Từ đầu năm 2007 phong trào nuôi cá tra, cá basa phát ểntri mạnh tại các tỉnh Đồng Bằng Sông Cửu Long. Tổng diện tích nuôi trồng ở 9 tỉnh, thành phố trong vùng gồm: An Giang, Đồng Tháp, Tiền Giang, Hậu Giang, Bến Tre, Vĩnh Long, Sóc Trăng, Cần Thơ.200ha so với cuối năm 2006.
Năng suất cá nuôi đạt 50 -80 tấn/ha. Theo quy hoạch thủy sản Đồng Bằng Sông Cửu Long đến năm 2010 diện tích nuôi cá tra, cá basa toàn vùng 10.900 bè cá, ếnđnăm 2020 diện tích nuôi là 16.900 bè sản lượng 2010 -860. Năm 2020 giá trị đạt 12. Tuy nhiên tốc độ phát triển nhanh đồng nghĩa với việc gây ô nhiễm môi trường ( muốn sản phẩm này phát triển một cách bền vững, cần phải quan tâm tới vấn đề vệ sinh môi trường và an toàn chất lượng sản phẩm tạo mối liên kết giữa nhà nuôi và người chế biến, xuất khẩu cũng như là sự liên kết toàn vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long).2 MỘT SỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN MÔI TRƯỜNG CỦA CÔNG NGHIỆP CHẾ BIẾN CÁ TRA, BASA: Nguồn gây ô nhiễm môi trường chủ yếu trong các nhà máy chế biến cá tra, basa thường được phân làm ba loại: nước thải, rác thải, khí thải.
Trong quá trình vận hành còn gây ra nguồn ô nhiễm khác như ồn, nhiệt.1 Nguồn gây ô nhiễm môi trường - Nước thải: Các xí nghiệp chế biến cá tra, basa thường dùng rất nhiều nước cho các mục đích sử dụng bao gồm: rửa nguyên liệu và sản phẩm, vận chuyển nguyên liệu và các chất thải bỏ theo hệ thống đường máng xung quanh xí nghiệp, vệ sinh xí nghiệp nhà xưởng sau mỗi ca làm. Đặc điểm của nước thải chế biến cá tra, basa là hàm lượng chất hữu cơ cao, chất lơ lửng và vi sinh vật gây bệnh. Ngoài ra trong nước thải còn có hàm lượng Nit ơ, photpho cao. Nước thải chế biến cá tra, basa có hàm lượng COD: 2000mg/l, BOD 1200mg/l, SS: 1200mg/l, dầu mỡ 80-250 mg/l, Nitơ tổng 100 mg/l, phốtpho tổng 30mg/l.
8 - Rác thải: Rác thải công nghiệp chế biến cá tra, basa chủ yếu là đầu cá, vẩy, mang, xương, ruột, thịt vụn, mỡ và các bộ phận khác rất dễ phân hủy, gây hôi thối, tanh tưởi. Cũng là môi trường cho ruồi, muỗi, vi khuẩn gây bệnh sinh sản và phát triển, gây ô nhiễm không khí, là một trong những nguyên nhân gây căn bệnh về đường hô hấp cho người dân sinh sống xung quanh khu vực và công nhân làm việc tại nhà máy. Ngoài ra còn có một lượng nhỏ rác thải sinh hoạt, bao bìa, giấy, thức ăn…đã qua sử dụng với thành phần đặc trưng của rác thải đô thị. - Khí thải: Khí thải sinh ra trong quá trình chế biến từ các phân xưởng: Khí thải clo sinh ra từ quá trình khử trùng thiết bị, nhà xưởng chế biến và khử trùng nguyên liệu, bán thành phẩm.
Mùi hôi tanh từ từ nơi chứa phế thải. Hơi tác nhân lạnh có thể rò rỉ: NH 3 .2 Tác động của các chất ô nhiễm tới môi trường: - Tác động của khí thải tới môi trường: Hơi NH 3 khi khu vực phân xưởng sản xuất trong trường hợp rò rỉ từ giàn ống của hệ thống khí lạnh. Khí NH 3 có mùi khá đặc trưng, dễ hòa tan trong nước, có phản ứng kiềm mạnh vì thế khí này làm rát mắt, họng… Mùi hôi, tanh tưởi trong các khu vực sản xuất không có đặc tính cho người lao động nhưng làm việc với thời gian dài sẽ có hiện tượng mệt mỏi trong giời làm việc, kém ăn, buồn nôm, chóng mặt cơ thể suy nhược… Tác nhân làm lạnh CFC: được dùng làm tác nhân làm lạnh trong các thiết bị làm lạnh, từ lâu được nghi nhận là tác nhân gây lỗ thủng tầng ozon và đã được khuyến cáo không nên sử dụng. Hơn nữa bản thân CFC là chất độc khi hít phải với nồng độ cao có thể dẫn đến độc, tính thậm chí gây tử vong.
- Tác động của rác thải tới môi trường: Đối với các loại rác thải hữu cơ dễ phân hủy, trong nước thải có chứa nhiều chất như: cacbonhydrat, protein, chất béo… khi xả vào nguồn nước sẽ làm cho nguồn oxy hòa tan trong nước giảm nhanh chóng do vi sinh vật s ử dụng để phân hủy các chất hữu cơ gây ảnh hưởng tới sự sinh sản và phát triển của các loài thủy sản sinh sống dưới nước, làm cho nước đục có màu, gây mùi hôi thối cho nước, giảm khả năng tự làm sạch của nguồn nước, làm giảm chất lượng nước cấp. Các chất rắn lơ lửng ảnh hưởng về mặt thẩm mỹ, hạn chế sự chiếu sáng của nước, ảnh hưởng tới quá trình quang hợp của rong rêu, tảo…là trở ngại sự lưu thông của nước và tàu bè. Với đặc trưng nước thải có nồng độ nitơ, photpho cao gây hiện tượng phát triển bùng nổ các loại tảo, đến mức độ giới hạn tảo sẽ chết và phân hủy gây hiện tượng thiếu oxy. Nếu nồng độ oxy giảm sẽ ảnh hưởng đến chất lượng nước thủy vực.
Ngoài ra, các loại tảo nổi lên trên mặt nước tạo thành lớp màng khiến cho bên dưới không có ánh sáng, quá trình quang hợp của nước bị ngừng trệ. Tất cả các hiện tượng trên gây tác động xấu tới: 9 Chất lượng nước, ảnh hưởng tới hệ thủy sinh, nghề nuôi trồng thủy sản, du lịch và cấp nước. - Tác động của nước thải: Nước thải chế biến cá basa có hàm lượng chất hữu cơ cao, nếu không được xử lý sẽ gây ô nhiễm cho nguồn nước mặt và nước ngầm trong khu vực. Đối với nước ngầm tầng nông: nước thải chế biến có thể ngấm xuống gây ô nhiễm nguồn nước ngầm là nước nhiễm mỡ, nhiễm chất hữu cơ.
Đối với các nguồn nước mặt: các chất ô nhiễm trong nước chế biến cá basa sẽ làm suy thoái chất lượng nước, tác động xấu tới môi trường nước và thủy sinh vật.3 GIỚI THIỆU VỀ CÔNG TY CTNHH GÒ ĐÀNG Tên công ty: Công Ty TNHH chế biến thủy sản Gò Đàng, tỉnh Tiền Giang. Tên giao dịch: GODACO SEAFOODCO., LTD Vị trí : Khu công nghiệp Mỹ Tho – Tiền Giang Công Ty TNHH chế biến thủy sản Gò Đàng được thành lập vào tháng 8 năm 1998 với chức năng kinh doanh chế biến thủy sản đông lạnh xuất khẩu. Đến năm 2003 công ty đã đầu tư xây dựng 2 nhà má y chế biến thủy sản tại khu công nghiệp Mỹ Tho – Tiền Giang. Công suất chế biến 6000 tấn/năm, với đội ngũ quản lý 50 người có chuyên môn cao với số lượng công nhân 600 người, hệ thống quản lý tuân thủ theo tiêu chuẩn HACCP, ISO 9001–2000.
Sản phẩm của công ty đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn nghiêm ngặt về vệ sinh an toàn thực phẩm đã khẳng định và có mặt ở khắp nơi trên thế giới. Các dạng sản phẩm của công ty Cá basa fillet cắt khúc, cắt miếng, tẩm bột, nguyên con làm sạch… 2.