Chương I: Hệ thống đào tạo đại học theo học chế tín chỉ Chương II: Kỹ nghệ hướng đối tượng Chương III: Xây dựng hệ thống thông tin quản lý kết quả học tập của sinh viên theo học chế tín chỉ của trường Đại học công nghiệp Hà nội Chương IV: Lập trình thử nghiệm Do điều kiện có hạn nên luận văn dừng lại ở những nội dung như trên. Luận văn chắc chắn không tránh khỏi những hạn chế và thiếu sót. Rất mong nhận được sự đóng góp và chỉ bảo của các thầy cô để luận văn có tính khả thi hơn trong việc áp dụng phát triển xây dựng hệ thống thông tin quản lý kết quả học tập của sinh viên theo học chế tín chỉ của trường Đại học công nghiệp Hà Nội 11 z CHƢƠNG I HỆ THỐNG ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC THEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ 1.1 Tổng quan về học chế tín chỉ Thế kỷ 21 được đánh dấu bằng các thành tựu đáng kể trong nhiều lĩnh vực: kinh tế toàn cầu hoá, quan hệ quốc tế, khoa học, công nghiệp, y tế và giáo dục có rất nhiều chuyển biến, trong đó các thành tựu trong lĩnh vực giáo dục đại học đóng vai trò rất lớn trong sự nghiệp phát triển của loài người. Cùng với sự bùng nổ của công nghệ thông tin, con người trong thế kỷ mới không ngừng có nhu cầu trao đổi kinh nghiệm của mình nhằm đóng góp vào qui trình phát triển thế giới.
Mỗi một kinh nghiệm cá nhân, mỗi một thành tựu khoa học, mỗi một khám phá mới về kiến thức thông qua các nghiên cứu đều có xuất phát điểm là các kinh nghiệm của nhiều thế hệ và cá nhân đi trước đặt nền tảng cho các bước kế tiếp sau này, mà cụ thể là thông qua các chương trình học ở các cấp độ khác nhau trong hệ thống giáo dục, đặc biệt là giáo dục đại học. Thế giới hiện đại luôn công nhận tầm quan trọng của giáo dục đại học, nơi sinh viên tiếp thu kiến thức và kỹ năng thông qua các chương trình học được sắp xếp có hệ thống. Thế giới đang trong tiến trình tìm tiếng nói chung ở các chương trình học, nơi sinh viên có thể chuyển đổi từ hệ thống giáo dục này sang hệ thống giáo dục khác mà không gặp nhiều khó khăn. Chính vì vậy, các nhà giáo dục, khoa học, chuyên môn và quản lý nhà nước lẫn giáo dục đại học đang cố gắng lập ra một không gian giáo dục thống nhất để sinh viên có thể tiếp thu càng nhiều kiến thức càng tốt.
Với mục đích đó, một hệ thống được gọi là „hệ thống chuyển đổi tín chỉ' được xây dựng và phát triển ở nhiều nước trên thế giới. Hệ thống chuyển đổi tín chỉ là một hệ thống được sử dụng cho tất cả các thành phần (hay môn học) của một chương trình học. Tất cả số lượng tín chỉ gộp lại sẽ giúp cho sinh viên có được bằng cử nhân, thạc sĩ, tiến sĩ hay một bằng cấp chuyên môn nào đó. Tín chỉ được sử dụng để đo lường khối lượng công việc của một sinh viên theo các hoạt động học tập đã được lên kế hoạch như lên lớp nghe giảng, tham dự seminar, hoặc tự học v.
Các tiêu chí này quyết định các đặc trưng cụ thể của các hệ thống tín chỉ khác nhau trong những khoá học gần giống nhau trên thế giới. Một số ưu điểm của hệ thống chuyển đổi tín chỉ như sau: Giúp sinh viên hình dung và định lượng ra tất cả các yêu cầu đối với bản thân trong từng giai đoạn cũng như trong suốt quá trình học tập của mình trong nhà trường; Tạo điều kiện cho sinh viên chủ động lên kế hoạch và thực hiện việc học tập dựa vào năng lực và điều kiện của mình, làm chủ thời gian và công việc; Tăng cường tính mềm dẻo và linh hoạt của chương trình, giúp sinh viên không bị mất đi những mảng kiến thức và kỹ năng đã tích lũy nếu như việc học của họ bị gián đoạn; 12 z Giúp sinh viên có thể chuyển đổi từ khoá học này sang khoá học khác trong cùng một hệ thống hay khác hệ thống; 1.1 Quan niệm về học chế tín chỉ Tín chỉ: là một đại lượng đo lường toàn bộ thời gian bắt buộc của một sinh viên bình thường để học một môn học cụ thể. Theo qui định của Bộ Giáo dục và Đào tạo một tín chỉ tương đương với 15 giờ học lý thuyết ở trên lớp; 30 giờ thực tập trong phòng thí nghiệm; 45 – 60 giờ đi thực tập, thực tế, thực địa. Để học một giờ tín chỉ sinh viên phải chuẩn bị trước khi lên lớp và tự học từ 2 – 4 giờ.
Để hoàn thành một tín chỉ thời gian đào tạo 15 tuần. Tín chỉ cũng là một phần kiến thức tương đối hoàn chỉnh cần phải trang bị cho sinh viên để làm nền tảng cho các học phần về sau hoặc là những kiến thức không thể thiếu để phục vụ nghề nghiệp của sinh viên sau này nên mỗi tín chỉ luôn phải có mục tiêu, mục đích rõ ràng, để giảm tải chương trình từ đó có thời gian và điều kiện rèn luyện khả năng tự học, kỹ năng thực hành tay nghề cho sinh viên. Học phần: là một khái niệm gần đồng nghĩa với môn học nhưng không phải môn học. Một môn học có thể bao gồm nhiều học phần hoặc một học phần có thể bao gồm kiến thức của 2 hoặc 3 môn học.
Học phần là một khối lượng kiến thức thường từ 2 – 4 tín chỉ, được tổ chức đào tạo trọn vẹn trong một học kỳ. Học phần học trước: là các học phần phải học trước thì mới đảm bảo tính lôgic cho các học phần về sau. Học phần học song hành: là các học phần luôn luôn phải đi kèm với nhau, thường gặp ở các học phần vừa có lý thuyết vừa có thực hành. Ví dụ: Nội lý thuyết phải đi kèm với Nội lâm sàng để bổ trợ cho nhau… Học phần tự chọn trong chương trình: là những học phần bắt buộc phải tự chọn trong chương trình đào tạo, theo hướng ngành nghề mình yêu thích.
Học phần tự chọn ngoài chương trình: (học thêm) là những học phần không bắt buộc đối với sinh viên. Những sinh viên có thể nộp học phí để học thêm, để mở mang kiến thức và làm cơ sở cho học bằng 2 sau này. Để đánh giá các học phần: có các điểm thường xuyên, giữa kỳ và hết môn, các điểm này đều có hệ số và điểm học phần là trung bình cộng của các điểm trên theo hệ số của từng loại điểm. Tất cả các loại điểm trên đều lấy đến 1 chữ số thập phân (theo thang điểm 10).
Điểm kiểm tra và thi hết học phần: có rất nhiều hình thức kiểm tra như tự luận, trắc nghiệm, thực hành tay nghề, bài tập lớn, bài tập nhỏ. Nên chuyển hướng kiểm tra khả năng phân tích, tổng hợp, so sánh, phê phán, thực hành tay nghề của sinh viên, tạo cho sinh viên có thói quen suy nghĩ độc lập, sáng tạo. 13 z Thảo luận: Seminar hay thảo luận nhóm (nhóm lớn hoặc nhóm nhỏ) được coi là phương pháp học tập thực sự tích cực nhất của sinh viên và nếu tổ chức tốt thì sẽ rất có hiệu quả trong giảng dạy tích cực. Điều đó rèn luyện tư duy sáng tạo, ý thức hợp tác, tinh thần tập thể, rèn luyện kỹ năng diễn đạt các vấn đề khoa học trước đám đông.
Điểm thảo luận nên đánh giá như sau: điểm thảo luận đánh giá theo thang điểm 10, lấy đến 1 chữ số thập phân theo quy định của quy chế (phần báo cáo chung, cho điểm cả nhóm tối đa 5 điểm/sinh viên + điểm sinh viên trực tiếp đóng góp trong thảo luận cho tối đa 5 điểm/sinh viên), sinh viên nào nắm vững vấn đề được phân công sẽ được điểm cao, sinh viên không tham gia hoặc không nắm vững vấn đề thảo luận sẽ được điểm thấp hoặc chỉ được điểm trong phần báo cáo chung của nhóm Sinh viên học tập trong tín chỉ Sinh viên thời nào cũng phải tự học, không tự học không được tốt nghiệp ra trường. Vì học tập là một quá trình chủ động, tích cực, sáng tạo, tự giác nên thầy không thể học thay trò, chỉ có điều tự học trước hay sau khi giảng viên lên lớp, tự học thụ động hay chủ động sáng tạo. Trong đào tạo theo học chế tín chỉ, với mục đích đào tạo ra những người có khả năng tự học vươn lên, vì với khối lượng tri thức rất lớn trong chương trình đào tạo nên sinh viên không thể học thuộc lòng tất cả các bài học. Sinh viên phải tự học, tự tìm hiểu để biết bản chất vấn đề, vận dụng được lý thuyết vào thực tiễn, nói được làm được, biện luận được, phân tích, tổng hợp, so sánh được.
Sinh viên phải tự đọc tài liệu trước khi lên lớp, đọc tài liệu và nghiền ngẫm những vấn đề trong tài liệu là hết sức quan trọng. Đào tạo theo hệ thống tín chỉ là một vấn đề mới và rất khó, cần đến sự quan tâm của tất cả các Thầy - Cô giáo và các em sinh viên. Nhưng mục đích cuối cùng của mọi sự trao đổi là để hướng tới nâng cao hiệu quả và đảm bảo chất lượng đào tạo.2 Sự khác biệt giữa đào tạo theo niên chế và theo học chế tín chỉ Đào tạo theo niên chế và đào tạo theo học chế tín chỉ là hai hình thức tổ chức đào tạo khác nhau nhưng đều có chung một mục tiêu là đào tạo ra nguồn nhân lực có trình độ cao, đáp ứng được sự phát triển của các ngành nghề trong xã hội trong từng giai đoạn lịch sử nhất định. Đào tạo theo niên chế hay đào tạo theo học chế tín chỉ đều có lịch sử phát triển từ lâu, mỗi cách tổ chức đào tạo đều có những ưu điểm, những khó khăn riêng và đều đạt những thành quả rất to lớn.
Nếu để tìm ra sự khác nhau giữa hai cách tổ chức đào tạo này thì trong phạm vi luận văn này không thể đáp ứng được, tuy vậy dưới góc độ đào tạo có thể thấy một số điểm khác nhau cơ bản giữa hai cách tổ chức đào tạo này. - Về hình thức tổ chức Đào tạo theo niên chế là đào tạo theo năm học, mỗi chương trình đào tạo của một ngành học được quy định đào tạo trong một số năm nhất định. Ví dụ chương trình đào tạo trình độ đại học được cấp bằng cử nhân thường đào tạo trong 4 năm, cấp bằng kỹ 14 z sư được đào tạo trong 5 năm, cấp bằng bác sỹ được đào tạo trong 6 năm.