Chương 1. Cơ sở lý luận và thực trạng của vấn đề nghiên cứu Chương 2. Thiết kế ebook chương “Điện tích. Điện trường”, Vật lý 11 Chương 3.
Tổ chức thực nghiệm 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Bản chất của năng lực 1. Khái niệm năng lực Khái niệm về năng lực đã được rất nhiều người bàn tới và đã có nhiều định nghĩa về năng lực. Theo từ điển tiếng Việt “Năng lực là khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hành động nào đó.
Năng lực là phẩm chất tâm lý và sinh lý tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao”. Các nhà tâm lý học thì cho rằng: “Năng lực là tổng hợp các đặc điểm, thuộc tính tâm lý của cá nhân phù hợp với yêu cầu đặc trưng của một hoạt động nhất định nhằm đảm bảo cho hoạt động đó đạt hiệu quả cao.” Theo Cosmovici thì: “Năng lực là tổ hợp đặc điểm của cá nhân, giải thích sự khác biệt giữa người này với người khác ở khả năng đạt được những kiến thức và hành vi nhất định”. Dựa trên quan điểm của nhiều tác giả đã đề cập ở trên, chúng ta có thể định nghĩa năng lực như sau: “Năng lực là khả năng giải quyết có hiệu quả cao các tình huống gặp phải trong bối cảnh cụ thể nhờ vào việc huy động các kiến thức, kỹ năng, thái độ và những tư chất sẵn có. Năng lực của cá nhân được đánh giá qua phương thức và tính hiệu quả của hoạt động của cá nhân đó khi giải quyết các vấn đề thực tiễn của cuộc sống”.
Như vậy, năng lực bao gồm các thành tố trong đó có kiến thức, kỹ năng nhưng năng lực không chỉ là kiến thức và kỹ năng mà năng lực thể hiện ở mức độ hiệu quả của hành động khi huy động các kiến thức và kỹ năng. Năng lực chỉ bộc lỗ ra thông qua hành động và cũng chỉ có thể phát triển qua hành động. Vì thế muốn phát triển năng lực của cá nhân thì nhất thiết phải đặt cá nhân vào trong bối cảnh, làm cho cá nhân muốn hành động (thái độ). 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Năng lực không mang tính chung chung mà khi nói đến năng lực, bao giờ người ta cũng nói về một lĩnh vực cụ thể nào đó như năng lực toán học của hoạt động học tập hay nghiên cứu toán học, năng lực âm nhạc của hoạt động trong vực âm nhạc, năng lực dạy học của hoạt động giảng dạy, năng lực về một môn thể thao cụ thể… Năng lực của học sinh là một cấu trúc động, có tính mở, đa thành tố, đa tầng bậc, hàm chứa trong nó không chỉ là kiến thức, kỹ năng mà cả niềm tin, giá trị, trách nhiệm xã hội… thể hiện ở tính sẵn sàng hành động của các em trong môi trường học tập phổ thông và những điều kiện thực tế đang thay đổi của xã hội.
Năng lực tự học 1. Khái niệm tự học Định nghĩa về tự học (self-directed learning), Malcolm Shepherd Knowles cho rằng “Tự học là một quá trình mà người học tự thực hiện các hoạt động học tập, có thể cần hoặc không cần sự hỗ trợ của người khác, dự đoán được nhu cầu học tập của bản thân, xác định được mục tiêu học tập, phát hiện ra nguồn tài liệu, con người giúp ích được cho quá trình học tập, biết lựa chọn và thực hiện chiến lược học tập và đánh giá được kết quả thực hiện”. Theo từ điển Giáo dục học – NXB Từ điển Bách khoa 2001, “Tự học là quá trình tự mình lĩnh hội tri thức khoa học và rèn luyện kỹ năng thực hành mà không cần có sự hướng dẫn trực tiếp của giáo viên, sự quản lý của cơ quan giáo dục” [12]. Trong tập bài giảng chuyên đề Dạy tự học cho sinh viên trong các nhà trường trung học chuyên nghiệp và Cao đẳng, Đại học GS – TSKH Thái Duy Tuyên viết: “Tự học là hoạt động độc lập chiếm lĩnh kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo, là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp…) cùng các phẩm chất động cơ, tình cảm để chiếm lĩnh tri thức một lĩnh vực hiểu biết nào đó hay những kinh nghiệm lịch sử, xã hội của nhân loại, biến nó thành sở hữu của chính bản thân người học”[10].
6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Vấn đề này cũng được nhiều nhà khoa học, nhà nghiên cứu định nghĩa trên các khía cạnh khác nhau. Tuy nhiên từ các phân tích trên có thể rút ra: Tự học là việc tự mình xác định động cơ, mục tiêu học lập, tự mình xây dựng, triển khai kế hoạch học tập, tự giác quản lý việc học của bản thân, tự chủ trong việc tìm kiếm tài liệu cũng như đối tác phối hợp khi cần thiết, tự kiểm tra, đánh giá việc học của mình để điều chỉnh cho phù hợp. Năng lực tự học là những thuộc tính tâm lí mà nhờ đó tự giải quyết được các vấn đề đặt ra một cách hiệu quả nhất, nhằm biến kiến thức của nhân loại thành sở hữu của riêng mình. Theo tác giả Trịnh Văn Biều, tự học có ba cấp độ: Thứ nhất: Tự học không có hướng dẫn: Là hình thức người học từ tìm tài liệu, tự nghiên cứu mà không cần đến sự hướng dẫn chính thức của ai.
Hình thức tự học này thường thấy ở người trưởng thành và nhà khoa học khi học đã tự xác định được động cơ học tập, ở họ có ý trí, nghị lực, ý thức tự giác, sự kiên trì, bền bỉ, đặc biệt là họ có kiến thức nền tảng để dễ dàng tiếp thu kiến thức mới. Cũng có thể là học sinh phổ thông khi các các em muốn tự tìm hiểu về một vấn đề mới nào đó. Thứ hai: Tự học có hướng dẫn: Là hình thức tự học có người hướng dẫn (không gặp gỡ thường xuyên), cung cấp tài liệu, giao nhiệm vụ, đôn đốc tiến độ, kiểm tra đánh giá kết quả. Các đối tượng như sinh viên, thực tập viên, học viên cao học, nghiên cứu sinh,… Thứ ba: Tự học có hướng dẫn trực tiếp: Là hình thức tự học nhưng có thầy hướng dẫn trực tiếp lên lớp giảng dạy một số buổi trên tuần, đồng thời giao tài liệu về nhà nghiên cứu theo hướng dẫn, có biện pháp kiểm tra kết quả tự học ở nhà.
Hình thức này phù hợp với học sinh phổ thông. Vai trò của tự học Thứ nhất, tự học giúp nâng cao hiệu quả học tập trên lớp của học sinh. 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Có nhiều phương thức học tập giúp chúng ta lĩnh hội được tri thức như thông qua nghe người khác nói, nhìn (xem) người khác làm, đọc tài liệu hướng dẫn, rút kinh nghiệm của người khác, có thể thông qua trao đổi, thảo luận với người khác, cũng có thể tự mình trải nghiệm bằng cách thử - sai – tự rút kinh nghiệm – thử lại. Theo tháp nhận thức mà các nhà nghiên cứu đã đưa ra (Hình 1.1) dưới đây, nếu HS chỉ nghe giảng thì sau hai tuần lượng kiến thức học sinh nhớ được chỉ còn lại 5%, nếu HS đọc tài liệu thì còn lại là 10%, nếu HS xem video hoặc audio thì còn lại 20%.
Đó là cách học tập thụ động. Với cách học thụ động trong các bài học như vậy thì kiến thức học sinh còn lưu lại là rất ít. Tháp nhận thức (Nguồn:https://www.vn/search?tbm=isch&q=Th%C3%A1p%20h %E1%BB%8Dc%20t%E1%BA%ADp#imgrc=4rBM4fLirLvxCM) Tuy nhiên, nếu học sinh học tập chủ động như thảo luận với các bạn, với giáo 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com viên, học qua thực hành, trải nghiệm, đặc biệt nếu học sinh có thể dạy lại cho bạn khác thì kiến thức học sinh chuyển hóa được rất bền vững và được lưu lại rất lâu với tỉ lệ rất cao, lên đến 90%. Tự học ở cấp độ đơn giản là tự hoàn thành một nhiệm vụ học tập do giáo viên yêu cầu, có thể diễn ra ở nhà hoặc diễn ra trong một khoảng thời gian ngắn của giờ học trên lớp, nhưng kết quả của việc hoàn thành nhiệm vụ ấy lại là tiền đề để học sinh có thể tham gia có hiệu quả vào các hoạt động học tập tiếp theo.
Vì vậy, dạy học muốn đạt hiệu quả thì cần thiết phải tổ chức các hoạt động học tập, tạo ra các bối cảnh, các cơ hội học tập để học sinh có thể trực tiếp tham gia vào. Đó chính là căn bản, cốt lõi của các phương pháp dạy học tích cực. Cần nhấn mạnh rằng điều kiện để học sinh có thể tham gia vào các hoạt động học tập tích cực trên lớp lại là việc học sinh đã nghiên cứu, chuẩn bị kiến thức cơ bản từ nhà. Vì thế mà việc tìm hiểu, nghiên cứu trước nội dung bài học trước ở nhà là rất quan trọng, quyết định chất lượng học bài trên lớp của học sinh.
Đó là vai trò đầu tiên của tự học. Thứ hai, tự học giúp người học hình thành nhiều tính cách đúng đắn. Tri thức có được từ tự học không chỉ sự ghi nhớ những gì được truyền đạt một cách thụ động mà những tri thức đó là thành quả của sự chủ động lĩnh hội với niềm đam mê nên nó rất bền vững. Hơn nữa qua quá trình tự học cá nhân tự trau dồi, rèn luyện có mình nhiều tính cách đúng đắn như tính tự giác, tính kỷ luật, lòng trung thực, kỹ năng xây dựng kế hoạch, tự quản lý bản thân.
Đó là nền tảng để hình thành nên phẩm chất và năng lực. Vậy dạy cho học sinh cách tự học là một trong các mục tiêu quan trọng của quá trình dạy học. Nói về vai trò tự học, trong bài viết “Quá trình tự học và phương pháp dạy tự học cho sinh viên” Th.s Dương Thị Thanh Huyền, Bộ môn khoa học Xã hội & Nhân văn cho rằng: “Có thể xem tính tích cực (hình thành từ năng lực tự học) như một điều kiện, kết quả của sự phát triển nhân cách thế hệ trẻ trong xã hội 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hiện đại. Trong quá trình tự học, các nhân người học phải gắng sức cao độ nhờ có sự hưng phấn tích cực.
Sự hưng phấn tạo nên hứng thú, đam mê trong học tập, có đam mê mới dẫn đến sự tự giác tìm tòi, khám phá. Trong quá trình tự tìm tòi khám phá bản thân nó cũng tạo ra hứng thú và đam mê. Vậy nên sự tích cực vừa là điều kiện cũng vừa là kết quả của sự phát triển nhân cách của người học.