Chương 1 MOT SỐ VAN BE CHUNG VE BẢO LÃNH 1: Khái niệm, đặc điểm của bao lãnh. hi một quan hệ nghĩa vụ được hình thanh thi trong đó, ít nhất có một ‘vén phải thực hiện một nghĩa vụ nhất định vì lợi ích của bên kia. Vấn để đặt ra là nêu bên có nghĩa vụ không tự giác thực hiện nghĩa vụ đỏ khi đến hạn thi quyển lợi của bên kia được bảo dém bang cách nào. Thông thường, bên có nghĩa vụ bằng một tai sin thuộc sở hữu của mình để bão đảm cho việc thực tiện nghĩa vụ đối với bên kia thông qua các biến pháp như cảm có, thé chap, đất cọc, ký cược, ký quỹ.
Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, khi bên có nghĩa ‘vu không có tải sản để bao dim cho việc thực hiện nghĩa vụ, ho buộc phải fim đến người thứ ba để người này bao đầm việc thực hiện nghĩa vu của họ trước 'oên có quyền. Vi vậy, có thé nói bão lãnh là một biện pháp bão dam thực hiện nghĩa vụ thường được áp dung trong trường hợp bên có nghĩa vụ trong quan hệ nghĩa vụ chính không có tài sản di để đầm bảo thực hiện nghĩa vụ. Theo đó, người thứ ba đứng ra cam kết trước bên có quyên về việc sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên cỏ nghĩa vụ, nếu khi đến thời hạn thực hiện nghĩa vụ mà bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng ngiĩa vụ. ‘Mét biện pháp bảo lãnh được hình thánh thường có sự liên quan giữa ba chủ thé là bên bão lãnh, bên nhận bao lãnh và bên được bao lãnh Tuy nhiên, quan hệ bao lãnh là quan hệ được xác lap giữa bên thứ ba với bén có quyển trong quan hệ nghĩa vụ chính nên chủ thể của quan hệ bảo lãnh chỉ bao gầm hai bên là bên bảo lãnh và bên nhận bao lãnh Trong đó, bên bão lãnh luôn lả người thứ ba, bên nhân bảo lãnh luôn lả bên có quyển trong quan hệ nghĩa vu được bão đảm bằng biện pháp bao lãnh.
“Thông qua biện pháp bao lãnh, người không có tài sin để bao dam cho món vay vẫn có thé vay ở một người khác một khoản tiên nhất định néu có. người thứ ba đứng ra cam kết trả nơ thay. Đây la một trong những biện pháp bảo dm thực hiện nghĩa vu dân sự ra đời tử rất sớm và tiép tục được ghỉ nhận, phát triển trong pháp luật hiện đại của các quốc gia trên thể giới Từ thời La Mã, bao lãnh đã được quy định va trong giai đoạn nay, bảo lãnh là một nghĩa vụ gin liên với nhân thân, châm đút khi người bảo lãnh. Ở Việt Nam, ngay tir thời nhà Lê, biện pháp bảo lãnh đã được ghi nhân.
trong Quốc triều Hinh luật: “Wgưởi mắc nợ trổ:in mắt, thi người đứng bảo lãnh phải hoàn trả tiền gốc mà thôi: nễu trong văn tự có ghi rố người sẽ trả thay, Thì người Ấy phải tra ni người mắc nợ, trái Iuật, thi bi xử phat 80 trượng; niểu người mắc nợ có con, thi được đồi ở con”. Quy định nay cho thấy biển pháp bảo lãnh trong Quốc triéu Hình luệt chi là biên pháp dự phòng, thể hiện ở chỗ: i) Người bảo lãnh không phai trả nợ thay cho con nợ nếu trong. văn tự đã ghỉ rõ về người trả nợ thay, ii) Nêu người mắc nợ có con thi con của họ là người trả nợ thay, ii) Người bao lãnh chi phãi thực hiện việc trả nơ thay khi con nợ bỏ trốn và chỉ phải hoàn trả gốc vay (nêu không thuộc hai trường hợp trên) Trong luật cân dai Việt Nam, (BLDS Bắc Ky và Trung Kỷ) quy định về biện pháp bao lãnh hoàn toàn dua trên nên tăng của Bộ luật dân sự Công hoa Pháp 1804. Trong quy đính của các Bộ dân luật nay thì “agiia vu bdo lãm: ‘mang tinh chất pia; người bảo lãnh được lưỡng quy chỗ người có ngiĩa vụ dhe bị; người bão lãnh thực hiện xong ngiữa vụ trở thành người thé quyên; riéng trong trường hop cô nhiều người bảo lãnh, thì nguyên tắc liên đối, chut ing phải nguyên tắc phân chia nghĩa vụ, được thiết Tap trong quan hệ hỗ tương giữa nhiững người bảo lãnh” Trong hệ thống pháp luật của Nước Công hoa zã hội chủ nghĩa Việt Nam, biên pháp bao lãnh lẫn đầu tiên được quy đính trong Pháp lệnh hop đẳng dân sự được Hội đẳng Nha nước ban hảnh ngày 20/4/1901 và sau đó, được các Bộ luật dan sự ké thửa va phát triển.
Biên pháp bão lãnh được BLDS 1995 quy định tại Điều 366: “I. Bảo lãnh là việc người thứ ba (gọi là người bảo lãnh) cam kết với bên có quyén (got là người nhận bảo lãnh) sẽ thực hiền ngiãa vụ thay cho bên 'NggỄn Ngọc Điện, “Fo luận Boa học Bio in tte hôn nghị tong Diệt đt sự tem”, Nhà `. cô nghĩa vụ (got là người được bdo lãnh), nễu khi đến thời han mà người được bão lãnh không thực hiền hoặc thực hiện Không ding ng]ữa vu. Các bên ciing có thé théa thuận về việc người bảo lãnh chi phải thực hién nghĩa vụ kit người được bảo lãnh không có kd năng thuec hiện ngÌữa vụ cũa minh 2.
Người bảo lãnh chỉ được bảo lãnh bằng tài sản thuộc sở lu của ‘minh hoặc bằng việc thực hién công việc. Vike bảo lãnh bằng tin chấp của tổ cinức chính trị - xã hội được tine Tiện theo quy dinh tại Điều 376 của Bộ luật này Tai Điều 361, BLDS 2005, bảo lãnh được quy định như sau: Béio lãnh là vide người tứ ba (sau đập gọi là bên bảo lãnh) cam Rết với bên có quyén (san đây got là bên nhận bảo lãnh) sẽ thực hiên ngiĩa vụ thay cho bên có ngiĩa vụ (sau đập got là bên được bảo lãnh), néu Rhi đắn thời han mà bên được bão lãnh không thuc hiện hoặc thực hiên không ding ngiữa vụ. Các bên fing có thé théa timiâm vỗ việc người bảo lãnh chi phải thực hiện nghĩa vụ lâu người được bảo lãnh Rhông có kh năng tực hiện nghĩa vi của mình Với hai điều luật ma hai Bộ luật dân sự trên quy định về bao lãnh, chúng ta thay ring bao lãnh theo quy đính của Bộ luật dân sự 1995 vừa mang tính đối vật vừa mang tính đối nhân bởi đối tương bảo lãnh có thể la “tai sn Thuộc sỡ hiữu“ của tiên bao lãnh, có thể là “vide fiực hiện công việc ”, đồng thời đối tượng cia bảo lãnh còn có thé là uy tin (trong trường hợp tổ chức chính tri - xã hội bao lãnh bằng tin chap). Theo khái niệm vẻ bao lãnh của Bộ luật dân sự 2005 thì bảo lãnh chỉ mang tính đối nhân và đối tương của bao lãnh chỉ có thé là công việc phải thực hiện (béi Bộ luật này đã tách tin chấp thánh một biện pháp bão đảm riêng biét).
Tuy nhiên, Bộ luật nay lại quy định: “Trong trường hop đã đến thời han thực hiện ngiữa vụ thay cho bên được bảo lãnhh mà bên bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không ding ng]ữa vu thi bên bảo lãnh phải dea tài sẵn thuộc số hitu của minh đỗ thamh toán cho bên nhận bảo iãnh:” (Điều 369) làm cho biện pháp bảo lãnh không thuần thay 1a tính đối nhân. 10 Khi Bộ luật 2015 được ban hành đã kế thừa gần như nguyên ven khái niêm của Bộ luật dân sự 2005 vẻ bảo bão lãnh: “1. Báo lãnh Ta vide người thie ba (sau day got là bên bảo lãnh) cam két với bên có quyền (sem đây got là bên nhãn bảo lãnh) sẽ thực hiện ngiữa vu thay cho bên có ng]ữa vụ (sau đập gọi là bên được bảo lãnh), néu kia dén thời han thực hién nghĩa vụ mà bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không ding ng]ữa vi 2. Các bên cô thé thỏa thuận về việc bên bảo lãnh chỉ phải thực hiện nghĩa vụ thay cho bôn được bảo lãnh trong trường bên được bảo lãnh Không cô khả năng thuc hiền ngiữa vụ bảo lãnh “(Điều 335, BLDS 2015).
Tuy nhiền, với tinh thân xác định biện pháp bảo lãnh lả biện pháp bảo đảm mang tính đổi nhân thuân thủy nên Bộ luật nay đã bỏ quy đính theo Điều 369 của Bộ luật 2005, thay vào đó là quy định vẻ trách nhiệm thanh toán của bên bão lãnh bằng Điểu 342 Là một biện pháp bảo đầm trong hệ thống chín biện pháp bao dm thực hiên nghĩa vụ được Bộ luật Dân su2015 của nha nước ta quy định, bảo lãnh. mang đây di những đặc điểm của các biện pháp bao đăm nói chung, ngoài ra con có các đặc điểm riêng sau đây: -là an pháp bảo đảm mang tính chất đồ i nhân Đa phin các biên pháp bao đảm đều mang tính đối vật, theo đó bên nhận bảo dim có các quyển đôi với tai sản bã đảm. Quyên đối vật trong các biện pháp bảo dam khác được gọi lả vat quyển bảo đảm bao gồm quyển chiêm hữu tat sản bão dim, quyển, quyển truy doi tài sản bảo dm trước sự chiếm hữu cia người thứ ba và thể hiện rổ nhất của tinh đối vat là bên nhận bảo đâm được quyển xử lý tải săn bao dam nêu đến thời hạn mã bên có nghĩa ‘vu không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ của ho. Ngược lại, bảo lãnh 1a một biên pháp bao dim mang tinh chất đối nhân.
bởi bao lãnh chỉ la sự cam kết của người thứ ba với bên có quyền vẻ việc “sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghữa vụ, nễu khi én thời han thực hiện nghĩa vụ mà bên được bdo lãnh king thue hiện hoặc thực hiện không đing nghĩa vụ”. Tinh chất đổi nhân của biện pháp bảo lãnh thể hiện ở chỗ đối tượng dùng để bảo dam la “công việc” (có thể la việc trả nợ thay néu bảo lãnh " trong vay vốn, có thé là việc thực hiển một công việc khác nếu bao lãnh cho việc thực hiên một hop đỏng mà người được bão lãnh là bên phải thực hiện. cho bên kia một công viếc nhất đính). Theo đỏ, khi người được bao lãnh vt pham nghĩa vụ thì bên nhân bảo lãnh không được quyển xử lý tai sản của bên bão lãnh Thay vào đó, bên nhận bảo lãnh chỉ có quyền “yêu cầu" bên bảo lãnh phải thực hiện phân nghĩa vụ mà người được bảo lãnh đã vi pham và trong một thời han nhất đỉnh ma bên bảo lãnh không thuc hiện nghĩa vu bảo lãnh thì bến nhân bao lãnh thực hiển quyển khởi kiện yêu cẩu Toa an bude ‘bén bao lãnh thực hiến nghĩa vu đó.