Chương 1 NHỮNG VAN DE CHUNG VE THÂM QUYEN GIAI QUYET VU AN DAN SU CUA TOA AN NHAN DAN 1. Nhận thức chung về tham quyền giải quyết vu án dân sự của Tòa án nhân dân 1. Khái niệm thẩm quyén giải quyết vụ án dân sự của Tòa án nhân dân Trước hết, dưới góc độ ngôn ngữ, Từ điển Tiếng Việt giải thích "tham quyên" là "quyên xem xét để kết luận và định đoạt một vấn dé theo pháp luật". Theo đó, "tham quyên" được hiệu theo nghĩa chung nhất là quyền của một tổ chức, cá nhân tự mình nhìn nhận, đánh giá sự việc và đưa ra phán quyết dé giải quyết một van dé nào đó phù hợp với quy định của pháp luật.
Dưới góc độ pháp lý, theo Từ điển Luật học thì "tham quyền" là "tổng hợp các quyên và nghĩa vụ hành động, quyết định của các cơ quan, tô chức thuộc bộ máy Nhà nước do luật pháp quy dinh"’. Từ đó cho thay, khái niệm thâm quyền bao hàm hai nội dung chính là quyền hành động và quyền quyết định. Quyền hành động là quyền được làm những công việc nhất định, còn quyền quyết định là quyền hạn giải quyết công việc đó trong phạm vi pháp luật cho phép. Dưới góc độ nghiên cứu, tác giả Lê Hoài Nam cho rang: "Tham quyên là quyên được thực hiện những hành vi pháp lý mà pháp luật giao cho một tô chức hoặc nhân viên Nhà nước.
Nói khác di, thẩm quyên là quyên của một chủ thể nhất định, đó là khả năng mà pháp luật cho phép được thực hiện một công việc trong một lĩnh vực, một phạm vi nhất định °. Theo tác giả Lê Thị Hà: "Tham quyên là tổng hop các quyền mà pháp luật quy định cho một cơ quan, t6 chức hoặc một công chức được xem xét giải quyết những công 1. Viện Ngôn ngữ học (2010), Từ điển tiếng việt, Nxb Từ điển bách khoa, tr. Viện Khoa học pháp lý- Bộ tư pháp (2005), Từ điển Luật học, Nxb Từ điển bách khoa, tr.
Lê Hoài Nam (1997), Thâm quyền xét xử sơ thâm theo pháp luật tố tụng dân sự tại Việt Nam, Luận văn thạc sĩ luật học, Trường Dai học Luật Hà Nội, tr. việc cụ thể trong lĩnh vực và phạm vi nhất định nhằm thực hiện chức năng của bộ máy Nhà nước * Như Vậy, có thể nhận định rằng, dù chúng ta tiếp cận dưới góc độ nào thì "tham quyền" luôn bao hàm 2 nội dung cơ bản đó là: quyền xem xét giải quyết các vụ việc trong phạm vi pháp luật cho phép và quyên hạn trong việc ra các quyết định khi giải quyết vụ việc đó. Khi xem xét khái niệm thâm quyên của Tòa án nhân dân cần phải dựa vào chức năng của Tòa án nhân dân theo quy định của Hiến pháp và Luật Tổ chức Tòa án nhân dân. Theo Điều 102 Hiến pháp năm 2013 thì: "Téa án nhân dan là cơ quan xét xứ của nước Cộng hoa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tr pháp".
Theo khoản 2 Điều 2 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 thì: "Toa án nhân danh nước Cộng hoa xã hội chủ nghĩa Việt Nam xét xu các vu an hình sự, dan sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động, hành chính và giải quyết các việc khác theo quy định của pháp luật;. Trên co sở quy định của Hiến pháp và Luật Tổ chức Tòa án nhân dân, hiện nay ở Việt Nam có các loại thủ tục t6 tung nhu: tô tụng hình sự, tổ tụng dân sự, tố tụng hành chính và thủ tục phá sản. Những loại việc được giải quyết tại Tòa án theo thủ tục tố tụng dân sự được gọi là vụ việc dân sự. Vụ việc dân sự bao gồm vụ án dân sự và việc dân sự.
Thuật ngữ vụ án được đề cập trong Pháp lệnh thủ tục giải quyết vụ án dân sự năm 1989 bao gồm các tranh chấp, yêu cầu dân sự được Tòa án thụ lý giải quyết như: Tranh chấp về quyền sở hữu, hợp đồng, bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng hoặc những tranh chấp khác, việc xác định công dân đã chết hoặc mat tích. Bởi theo Pháp lệnh Thủ tục giải quyết vụ án dân sự năm 1989 không có sự phân biệt giữa quy định của pháp luật về thủ tục giải quyết vụ án dân sự và việc dân sự. Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 được ban hành, trong đó Điều 1 quy định: "Bộ luật tố tụng dân sự quy định những nguyên tắc cơ 4. Lê Thị Hà (2005), Phân cấp thâm quyên giải quyết tranh chấp dân sự trong hệ thống Tòa án ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, Luận án tiên sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, tr.
10 bản trong t6 tụng dân sự; trình tự, thủ tục khởi kiện dé Tòa án giải quyết các vụ án về tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động (sau đây gọi chung là vụ án dân sự) và trình tự, thủ tục yêu cầu để Tòa án giải quyết các việc về yêu cầu dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động (sau đây gọi chung là việc dân sự); trình tự, thủ tục giải quyết vụ án dân sự, việc dân sự (sau đây gọi chung là vụ việc dân sự) tại Tòa an". Như vậy, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 quy định về nguyên tắc, trình tự, thủ tục giải quyết vụ việc dân sự và thuật ngữ vụ việc dân sự đã được Bộ luật Tố tụng dân sự ghi nhận chính thức. Khái niệm vụ việc dân sự bao gồm vụ án dân sự và việc dân sự, trong đó, vụ án dân sự là các tranh chấp về quyền và nghĩa vụ dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại và lao động được quy định thuộc thâm quyền giải quyết của Tòa án theo thủ tục tố tụng dân sự và được Tòa án thụ lý giải quyết. Việc dân sự là việc các cá nhân, cơ quan, tô chức không có tranh chấp nhưng yêu cầu Tòa án công nhận hoặc không công nhận sự kiện pháp lý là căn cứ làm phát sinh quyền và nghĩa vụ dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại và lao động của mình hoặc của cá nhân, cơ quan, tô chức khác; yêu cầu Tòa án công nhận hoặc không công nhận cho mình quyền về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mai và lao động được pháp luật quy định thuộc thâm quyền giải quyết của Tòa án theo thủ tục tố tụng dân sự và được Tòa án thụ lý, giải quyết.
Việc phân biệt vụ án dân sự và việc dân sự dé ap dung cac thu tuc t6 tụng khác nhau dé giải quyết. Như vậy, theo nghĩa rộng, vụ án dân sự là những tranh chấp phát sinh từ những quan hệ pháp luật dân sự dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại và lao động được Tòa án thụ lý, giải quyết theo đơn khởi kiện của các cá nhân, cơ quan, tổ chức nhằm yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, của người khác, lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước. Theo nghĩa hẹp, vụ án dân sự là những tranh chấp phát sinh từ II những quan hệ pháp luật dân sự dân sự được Tòa án thụ lý, giải quyết theo đơn khởi kiện của các cá nhân, cơ quan, tổ chức nhằm yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, của người khác, lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước. Do đó, hiểu một cách khái quát nhất thì thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại và lao động (gọi chung là vụ án dân sự) nào thuộc thâm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân theo thủ tục tố tụng dân sự và quyền quyết định khi giải quyết các vụ án dân sự đó.
Dưới góc độ nghiên cứu, đã có một số công trình nghiên cứu đưa ra khái niệm thâm quyén dân sự của Tòa án. Theo tác giả Ngô Thi Hương thì: "Tham quyên được hiểu là quyên chính thức được xem xét dé kết luận và định đoạt, quyết định một vấn dé. Thẩm quyên giải quyết các vụ việc dân sự của Tòa án nhân dân là quyên thụ lý, xem xét và ban hành các quyết định khi giải quyết vụ việc dân sự theo thủ tục tổ tụng dân sự", Giáo trình Luật Tố tụng dân sự của Trường Dai học Luật cho rang: "Tham quyên dan sự của Tòa án là quyên xem xét giải quyết các vụ việc và quyền hạn ra các quyết định khi xem xét giải quyết các vụ việc đó theo thủ tục tô tụng dân sự của Toa an ® Có thé thay, các khái niệm trên đều tiếp cận khái niệm thâm quyền dân sự dưới hai góc độ là phạm vi xem xét loại việc và quyền hạn khi giải quyết vụ việc đó. Tuy nhiên, trong phạm vi nghiên cứu của luận văn này, chúng tôi chỉ nghiên cứu về thầm quyền giải quyết vụ án dân sự của Tòa án nhân dân dưới góc độ phạm vi các vụ án dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo thủ tục tố tụng dân sự.
Luận văn không nghiên cứu các vụ án hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại và lao động thuộc thâm quyên giải quyết của Tòa án nhân dân và cũng không nghiên cứu thâm quyền giải quyết vụ án dân sự của Tòa án dưới góc độ quyên quyết định. Ngô Thi Thu Hương (2017), Tham quyền theo vụ việc của Tòa án nhân dân trong việc giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại từ thực tiễn Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội, Luận văn thạc sĩ luật học, Viện Đại học Mở Hà Nội, tr. Trường Đại học Luật Hà Nội (2017) Giáo trình Luật Tố tụng dân sự, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, tr. 12 Ở Việt Nam, xuất phát từ những đặc thù về tổ chức hệ thống Tòa án cho nên thâm quyền giải quyết vụ án dân sự của Tòa án trong tố tụng dân sự cũng có những điểm khác biệt.
Khái niệm thâm quyền của Tòa án được tiếp cận dưới ba góc độ là thẩm quyên theo loại việc, thẩm quyền của Tòa án các cấp và thâm quyền của Tòa án theo lãnh thổ. Trên nguyên tắc Tòa án không được từ chối thụ lý, giải quyết các vụ việc dân sự vì lý do chưa có điều luật áp dụng nên về nguyên tắc tất cả các tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình đều thuộc thâm quyên của Tòa án và giải quyết theo thủ tục t6 tụng dân sự trừ trường hợp pháp luật quy định thuộc thâm quyền giải quyết của các cơ quan, tổ chức khác.