Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THẨM QUYỀN ĐIỀU TRA HÌNH SỰ CỦA HẢI QUAN VIỆT NAM 1. Vài nét về lịch sử hình thành và phát triển thẩm quyền điều tra của Hải quan Việt Nam Ngay sau khi nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời, ngày 10 tháng 9 năm 1945, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Võ Nguyên Giáp thay mặt Chủ tịch Chính phủ lâm thời ký Sắc lệnh 27/SL thành lập "Sở thuế quan và thuế gián thu" để đảm nhiệm công việc của Sở Tổng thanh tra độc quyền muối và thuốc phiện và các Sở Thương chính Bắc, Trung và Nam bộ. Nhiệm vụ của Sở Thuế quan và thuế gián thu là: thu thuế nhập cảng, xuất cảng; thu thuế gián thu có biên vào sổ tổng dự toán; thu các món tiền do sự kinh doanh độc quyền mà có. Sự kiện này có ý nghĩa rất quan trọng, đánh dấu sự ra đời của Hải quan Việt Nam trong bộ máy nhà nước, không chỉ đáp ứng nhu cầu của phát triển kinh tế đất nước, mà còn khẳng định Hải quan là một công cụ không thể thiếu của một quốc gia độc lập có chủ quyền [29, tr 7].
Trong những ngày đầu thành lập, Sở Thuế quan và thuế gián thu cùng với Nha thương vụ Việt Nam (thuộc Bộ Kinh tế Quốc gia) đã đấu tranh với Pháp để bảo vệ chủ quyền về ngoại thương và thuế quan của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà. Trong giai đoạn đầu của cuộc kháng chiến chống pháp, Chính phủ giành độc quyền về ngoại thương, mọi hàng hoá lưu thông trong vùng tự do đều do Chính phủ kiểm soát, quản lý. Ngành Thuế quan đã cùng với Ngoại thương Cục làm tốt công tác kiểm soát chống buôn lậu hàng hoá, kiểm soát hàng hoá, tiền bạc của tư thương xuất, nhập giữa vùng tự do và vùng tạm chiếm, thực hiện nhiệm vụ thu thuế xuất nhập cảng. Nhằm tăng cường công tác kiểm soát 6 và chống buôn lậu hàng hoá có hiệu quả, ngày 28 tháng 5 năm 1948, Chính phủ ban hành Sắc lệnh 189/SL quy định sự khám nhận và truy tố những việc trái với luật lệ ngoại thương theo thủ tục ấn định, cụ thể: "1.
Các nhân viên thuế quan và công an sẽ khám nhận theo thủ tục hiện hành. Ngoài ra mỗi khi truy thấy một sự phạm pháp những nhân viên kinh tế có thẩm quyền có thể trực tiếp khám và lập biên bản theo thường pháp. Các việc phạm pháp sẽ đưa ra trước toà án thường nếu có sự khiếu tố của những cơ quan kinh tế có thẩm quyền. Công tố viên truy tố theo đơn khiếu tố của các cơ quan kinh tế" Như vậy, theo quy định tại Sắc lệnh này thì nhân viên Thuế quan và thuế gián thu có quyền khám xét và tiến hành các hoạt động tố tụng để truy tố đối với các hành vi vi phạm pháp luật về ngoại thương, nhằm bảo vệ độc quyền về ngoại thương của Nhà nước.
Nghị quyết Trung ương lần thứ nhất (Khoá II) được ban hành vào tháng 3 năm 1951 đã xác định "mục tiêu đấu tranh kinh tế tài chính với địch cốt làm sao cho địch thiếu thốn, mình no đủ, hại cho địch, lợi cho mình”. Do đó, Nhà nước không đặt hàng rào ngăn hẳn giữa ta với địch, mà chúng ta vẫn mở mang, buôn bán với địch, nhưng chỉ đưa vào vùng địch những thứ hàng không hại cho ta, và đưa ra vùng tự do những thứ hàng cần cho kháng chiến, cần cho đời sống nhân dân. Để thực hiện tốt nhiệm vụ kinh tế - tài chính trong điều kiện mới nêu trên, ngày 17 tháng 7 năm 1951, Bộ trưởng Bộ Tài chính đã ký Nghị định 63/NĐ ấn định hệ thống tổ chức Sở thuế thuộc Bộ Tài chính. Và như vậy, Sở Thuế quan và thuế gián thu bị giải thể, thay vào đó là Phòng Thuế xuất nhập khẩu nằm trong Sở Thuế trung ương.
Về cơ bản, chức năng nhiệm vụ cũng như biên chế của Phòng Thuế xuất nhập khẩu không có gì thay đổi so với Sở Thuế quan và thuế gián thu cũ, nhưng quy mô đã bị thu hẹp lại cho phù hợp với tính hình mới. Theo Điều lệ tạm thời số 247-TTg 7 ngày 10 tháng 4 năm 1953 quy định tổ chức và nhiệm vụ của các cơ quan thuộc ban quản lý xuất nhập khẩu ở trung ương và các Khu quản lý xuất nhập khẩu hay Phân khu quản lý xuất nhập khẩu ở địa phương, thì phân sở Thuế xuất nhập khẩu có nhiệm vụ "Tổ chức việc kiểm soát, truy nã và xử lý các vụ buôn lậu. Nếu tội nặng thì phải thỉnh thị Khu quản lý xuất nhập khẩu". Với nhiệm vụ này, trong năm 1953 ngành Thuế xuất nhập khẩu đã bắt 20.163 vụ, tịch thu hàng hoá trị giá 997 triệu đồng [29, tr 70].
Chiến thắng đông xuân 1953-1954, buộc thực dân Pháp phải ký Hiệp định Giơnevơ, rút quân về nước, lập lại hoà bình trên cơ sở thừa nhận chủ quyền dân tộc của ba nước Đông Dương. Mặc dù, nền kinh tế nước ta bị chiến tranh tàn phá nặng nề, các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp chưa kịp phục hồi, nhưng Chính phủ đã có chủ trương mở rộng buôn bán với các nước. Để làm được điều này ngoài khả năng khôi phục và phát triển sản xuất, khai thác nguồn hàng, còn cần có một lực lượng chức năng có khả năng hoàn thành nhiệm vụ bảo đảm chính sách độc quyền ngoại thương của Nhà nước. Vì vậy trong phiên họp thường kỳ tháng 10 năm 1954, Chính phủ đã quyết định chuyển ngành thuế xuất nhập khẩu sang Bộ Công thương để thành lập ngành Hải quan.
Ngày 14 tháng 12 năm 1954, Bộ trưởng Bộ Công thương đã ký Nghị định số 136/BCT/KB/NĐ thành lập Sở Hải quan thuộc Bộ Công thương. Tên gọi Hải quan được sử dụng chính thức từ đó đến nay [29, tr 85]. Ngày 6/4/1955 Bộ Công thương đã ký Nghị định 73-BCT/NĐ/KB quy định nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy của Sở Hải quan, cho phép Hải quan có quyền khám xét hàng hoá, tiền tệ, vàng bạc, hành lý, công cụ vận tải, hành khách qua lại biên giới Việt Nam Dân chủ cộng hoà; giữ lại để xử lý những hàng hoá trên nếu vi phạm vào thể lệ hải quan; giữ lại và giao Công an để điều tra và chuyển sang Toà án nhân dân để truy tố những gian thương chống lại hoặc phá hoại chính sách của Chính phủ. 8 Tháng 9 năm 1955, Bộ Công thương được chia tách thành Bộ Công nghiệp và Bộ Thương nghiệp.
Tháng 4 năm 1958, Bộ Thương nghiệp lại tách thành Bộ Nội thương và Bộ Ngoại thương. Cơ quan Hải quan cũng được chuyển giao trực thuộc Bộ Thương nghiệp, rồi Bộ Ngoại thương, là những Bộ có chức năng quản lý nhà nước về kinh tế đối ngoại và ngoại thương. Nhằm đẩy mạnh hoạt động xuất nhập khẩu, mở rộng sản xuất trong nước và phát triển nguồn thu ngoại hối phục vụ cho công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, tăng cường quan hệ giữa nước ta với các nước, đòi hỏi phải có các văn bản pháp lý về quản lý kinh tế hoàn chỉnh ở mức cao hơn, đáp ứng yêu cầu trước mắt và lâu dài. Ngày 27 tháng 2 năm 1960, Chính phủ đã ban hành Điều lệ Hải quan kèm theo Nghị định số 03/CP.
Ngày 18 tháng 2 năm 1961, Bộ Ngoại thương ban hành Thông tư số 16/BNT-VPCP giải thích và hướng dẫn Điều lệ Hải quan, quy định cơ quan Hải quan có quyền khám người, công cụ vận tải, nhà ở; cơ quan Hải quan có quyền tạm giữ hàng hoá phạm pháp, công cụ vận tải chuyên chở hàng hoá phạm pháp, tang vật che dấu hàng phạm pháp. Cơ quan Hải quan có quyền xử lý đối với hành vi buôn lậu, trường hợp cần thiết, cơ quan Hải quan có quyền đề nghị cơ quan Công tố truy tố trước toà. Ngày 30 tháng 8 năm 1984, Hội đồng Nhà nước ra Nghị quyết số 547/NQ/HĐNN phê chuẩn việc thành lập Tổng cục Hải quan, là cơ quan thuộc Hội đồng Bộ trưởng. Ngày 20 tháng 10 năm 1984, Hội đồng Bộ trưởng ban hành Nghị định số 139/HĐBT quy định nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Tổng cục Hải quan.
Điều 1 Nghị định 139/HĐBT quy định: “Tổng cục Hải quan, cơ quan thuộc Hội đồng Bộ trưởng là công cụ chuyên chính nửa vũ trang của Đảng và Nhà nước, có chức năng: - Kiểm tra và quản lý hàng hoá, hành lý, ngoại hối và các loại công cụ vận tải xuất nhập qua biên giới nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam; 9 - Thi hành chính sách thuế xuất khẩu, nhập khẩu; - Ngăn ngừa và chống các vi phạm luật lệ hải quan và các luật lệ khác liên quan đến việc xuất nhập khẩu; - Chống các hoạt động buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hoá, tiền tệ qua biên giới.” Như vậy, việc quy định Hải quan có thẩm quyền khám xét, điều tra, xử lý các hành vi buôn lậu đã góp phần to lớn trong việc bảo vệ chính sách độc quyền về ngoại thương của Nhà nước trong những năm đầu xây dựng xã hội chủ nghĩa, góp phần vào bảo vệ chủ quyền an ninh quốc gia, an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Trên cơ sở kế thừa những thành quả đã đạt được, Pháp lệnh Hải quan năm 1990 quy định "Hải quan Việt Nam thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về hải quan đối với hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh, mượn đường Việt Nam; đấu tranh chống buôn lậu hoặc vận chuyển trái phép hàng hóa, ngoại tệ, tiền Việt Nam qua biên giới". Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, thì tình hình đầu cơ, buôn lậu ngày càng gia tăng, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản xuất và an ninh quốc gia. Vì vậy, hành vi buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hoá, ngoại hối qua biên giới bị coi là tội phạm và được quy định trong Bộ luật hình sự.
Theo Điều 97 Bộ luật hình sự năm 1985 thì "Người nào buôn bán trái phép hoặc vận chuyển trái phép qua biên giới hàng hoá, tiền Việt Nam, ngoại tệ, kim khí quý, đá quý hoặc vật phẩm thuộc di tích lịch sử, văn hoá, thì bị phạt tiền đến năm lần giá trị vật phạm pháp hoặc bị phạt tù từ một năm đến năm năm".