CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ THÂM NHẬP THỊ TRƯỜNG QUỐC TẾ 1. Khái quát về chiến lược thâm nhập quốc tế a. Chiến lược Chiến lược (tiếng Anh là: strategy), là một khái niệm được bắt nguồn từ lĩnh vực quân sự. Từ này có nguồn gốc từ khái niệm “strategos” trong tiếng Hy Lạp cổ.
Thời Alexander Đại đế, đây là khái niệm được sử dụng để chỉ sự lãnh đạo nhằm khai thác mọi lực lượng và đánh bại đối thủ. Qua đó, hướng tới việc tạo dựng hệ thống thống trị toàn cục. Từ lĩnh vực quân sự, khái niệm “chiến lược” được mở rộng và được sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác như kinh doanh, quản lý nhà nước và quản lý nói chung. Với việc được sử dụng rộng rãi trong xã hội hiện đại, ngày càng có nhiều cách hiểu cho khái niệm này.
Theo Alfred Chanlder (1962), “chiến lược là tiến trình ấn định các mục tiêu cơ bản, dài hạn của DN, đồng thời lựa chọn cách thức hay tiến trình hành động và phân bổ tài nguyên thiết yếu nhằm thực hiện các mục tiêu đã chọn” (Phòng Nghiên cứu Phát triển các định chế tài chính – Viện CLNH, 2014). Ông cho rằng đây là một quá trình xuyên suốt để hình thành chuỗi mục tiêu và từ đó, DN thiết lập được cách thức nhằm đặt được các mục tiêu đó. Sau Alfred Chanlder, James Brian Quinn (1980) đã định nghĩa chiến lược: “Chiến lược là mô thức hay kế hoạch tích hợp các mục tiêu chính yếu, chính sách và chuỗi hành động vào một tổng thể được cố kết mỗi cách chặt chẽ”. Điều này có nghĩa là chiến lược là một kế hoạch tổng thể mà trong đó đã bao gồm các mục tiêu và các kế hoạch hành động gắn liền với mục tiêu đó (Ngô Kim Thanh, 2012).
Nigel Piercy và David Cravens (1982) định nghĩa: “Chiến lược công ty bao gồm các quyết định được đưa ra bởi ban lãnh đạo cao nhất và kết quả là các hành động được thực hiện để đạt được các mục tiêu đặt ra cho DN”. Nghĩa là, chiến lược là những quyết định của ban lãnh đạo công ty. Những quyết định đó hướng tới việc định hướng cho các hoạt động của DN để đạt được những mục tiêu đã đặt ra (Nigel Piercy & David Cravens, 1982). Trên cơ sở các khái niệm của các nhà khoa học, ta có thể rút ra một số đặc trưng của chiến lược, bao gồm: 7 - Chiến lược là những kế hoạch hành động cụ thể của DN nhằm đạt được một mục tiêu nhất định nào đó.
- Chiến lược thường có tính dài hạn và có định hướng cho mọi hoạt động của DN. - Chiến lược bao gồm mục tiêu, kế hoạch hành động và các nguồn lực. Các yếu tố này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, là các yếu tố quyết định cho sự tồn tại của một DN và giúp DN có được định hướng phát triển trong tương lai. Dựa vào những đặc trưng trên, ta có thể hiểu rằng chiến lược là một hệ thống các quan điểm, mục tiêu, các kế hoạch hành động, các nguồn lực và giải pháp nhằm sử dụng tốt nhất các nguồn lực, lợi thế, cơ hội của DN để đạt được mục tiêu đã đề ra.
Với cách hiểu này, chiến lược sẽ bao gồm các mục tiêu, nguồn lực và kế hoạch hành động. Chiến lược thâm nhập thị trường quốc tế Theo Root (1983), “chiến lược thâm nhập thị trường nước ngoài là sự sắp xếp nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc đưa sản phẩm, công nghệ, kỹ năng quản lý hoặc các nguồn lực khác của một công ty ra nước ngoài” (Sako Bandick & Fabakary Sanneh, 2018). Điều này có nghĩa là hoạt động TNTT quốc tế của một DN có thể đưa một hoặc nhiều nguồn lực của chính DN ấy đến một quốc gia khác, nhằm đạt được một hoặc một vài mục tiêu nhất định. Như vậy, từ khái niệm chiến lược và chiến lược TNTT nước ngoài đã trình bày, có thể hiểu rằng: “chiến lược thâm nhập thị trường quốc tế là quá trình xác định các mục tiêu cụ thể và kế hoạch hành động nhằm đưa các sản phẩm và nguồn lực của DN vào một thị trường nước ngoài”.
Chiến lược này của DN sẽ hướng tới các mục tiêu dài hạn. Ngoài ra, chiến lược TNTT quốc tế phải có sự liên kết chặt chẽ với các chiến lược khác của DN. Đồng thời, việc xác định chiến lược thâm nhập vào các thị trường nước ngoài phụ thuộc vào nhiều yếu tố, bao gồm môi trường vĩ mô, đối thủ cạnh tranh và nguồn lực của chính DN đó. Vì vậy, để hoạt động TNTT nước ngoài trở nên hiệu quả nhất, cần nghiên cứu kỹ về thị trường mà DN muốn thâm nhập và đánh giá những thế mạnh của chính DN đó.
Động lực gia nhập thị trường quốc tế a. Nhân tố từ phía DN - Quy mô DN: Những DN lớn thường có xu hướng quốc tế hóa nhiều hơn các DN nhỏ. Với quy mô lớn, các DN sẽ có nguồn lực tài chính dồi dào và cũng đồng thời sở hữu đội ngũ quản lý chất lượng cao. Những DN này cũng sẽ có năng lực sản xuất lớn hơn những DN nhỏ nên sẽ có khả năng đáp ứng được nhu cầu của cả khách hàng trong nước và nước ngoài.
Việc sản xuất của những DN lớn sẽ tận dụng được lợi thế kinh tế theo quy mô nên sẽ tiết kiệm được nhiều chi phí. Cùng với đó, với năng lực tài chính tốt, những DN này sẽ chịu mức độ rủi ro thấp hơn khi hoạt động ở những thị trường nước ngoài. - Sức hấp dẫn quốc tế của SP: Nếu SP của DN có sức hút với khách hàng ở các quốc gia khác thì đây là cơ hội để DN mở rộng HĐKD ra thị trường nước ngoài. Sức hấp dẫn quốc tế của SP có thể được thể hiện thông qua tốc độ tăng trưởng doanh thu của SP tính từ lúc SP được tung ra thị trường.
Tốc độ tăng trưởng doanh thu thể hiện sự ưa chuộng của khách hàng cho SP của DN. Nếu doanh thu có tốc độ tăng nhanh, điều đó cho thấy rằng SP được săn đón và nhu cầu của khách hàng cũng gia tăng. Yếu tố sức hấp dẫn quốc tế được thể hiện rõ nhất nếu DN sản xuất được SP độc nhất vô nhị, có sức hút với khách hàng ở nhiều quốc gia. Nhân tố môi trường - Các đề xuất: DN sẽ có động lực mở rộng phạm vi hoạt động từ trong nước ra thế giới nếu nhận được những đề xuất đến từ chính phủ, các nhà phân phối hoặc thậm chí là khách hàng từ các quốc gia khác.
Những đề xuất này đã phần nào thể hiện được rằng SP của DN có sức hấp dẫn đối với các khách hàng ở quy mô rộng hơn. Từ đó, các DN lớn với nhiều nguồn lực và khả năng sản xuất quy mô lớn có thể cân nhắc đưa SP của mình ra thị trường nước ngoài. - Hiệu ứng “lôi kéo”: Khi các DN bắt đầu thâm nhập các thị trường nước ngoài, đối thủ cạnh tranh của họ sẽ có sự quan sát và có thể làm theo các DN đi trước. Điều này được thể hiện rõ ở những ngành công nghiệp sản xuất và những công ty mà SP của họ có doanh thu đến từ nhiều quốc gia.
Bằng việc mở rộng sản xuất ra nước ngoài, đặc biệt là các nước đang phát triển, DN sẽ dễ dàng tận dụng được nguồn lao động giá rẻ, thu mua nguyên liệu với giá thấp hơn. Giá thành cho các 9 SP của họ sẽ giảm đi do chi phí đầu vào không cao như trong nội địa. Vì thế, các đối thủ cạnh tranh có thể sợ không theo kịp những DN đi trước. Một vài DN đi đầu có khả năng lôi kéo được hàng loạt đối thủ cạnh tranh mở rộng quy mô sản xuất ra nước ngoài.
- Sức hấp dẫn của nước chủ nhà: Dưới góc nhìn của các DN nước ngoài, một quốc gia được coi là có sức hấp dẫn nếu thị trường tại quốc gia đó có quy mô lớn để mang lại doanh thu và lợi nhuận ổn định cho DN. Đồng thời, các điều kiện về chính trị, kinh tế, xã hội tại quốc gia cũng phải đảm bảo cho DN được hoạt động ổn định, tập trung phát triển HĐKD. Bên cạnh các yếu tố đó, thu nhập bình quân đầu người cũng được các DN quan tâm khi xem xét việc thâm nhập vào thị trường một quốc gia. Bởi lẽ, nếu mức thu nhập bình quân của người dân cao, thì đây sẽ là thị trường có sức mua lớn đối với SP của họ, đặc biệt nếu đó là các SP hàng hóa tiêu dùng.
Còn trong trường hợp DN muốn mở rộng quy mô sản xuất hoặc di chuyển nhà máy đến một quốc gia nào khác, yếu tố hấp dẫn với họ sẽ là nguồn lao động giá rẻ và nguồn nguyên liệu dồi dào. Xây dựng chiến lược thâm nhập thị trường quốc tế 1. Phân tích các yếu tố vĩ mô Sử dụng mô hình PESTEL là phương pháp phổ biến để phân tích các yếu tố vĩ mô. Mô hình được xuất bản lần đầu tiên vào năm 1967, trong cuốn sách “Scanning the Business Environment” của giáo sư Harvard Francis Aguilar.
Đây là một công cụ hữu ích để các DN biết được tất cả các yếu tố vĩ mô tại thị trường mà DN đó đang hoạt động. Thông qua đó, DN có thể nhìn ra những cơ hội và những thách thức tiềm ẩn tại môi trường đó. Trong đó, PESTEL là viết tắt của sáu từ tiếng Anh, bao gồm: Political – chính trị; Economic - kinh tế; Social – xã hội; Technological – công nghệ; Legal – pháp lý và Environmental – môi trường. 1: Mô hình PESTEL 1.
Yếu tố chính trị DN cần phân tích các yếu tố chính trị hưởng đến HĐKD, bao gồm các chính sách, quy định, quyết định của chính phủ và các tổ chức quốc tế. Cụ thể hơn, đó là những sự biến động, sự ổn định về chính trị, hội nhập khu vực, rủi ro chính trị, tình trạng tham nhũng, … Trong đó, sự ổn định về chính trị luôn là yếu tố hấp dẫn đối với các nhà đầu tư (NĐT) nước ngoài. Yếu tố chính trị có thể tạo ra cơ hội hoặc có thể tạo ra thách thức đối với DN. Vì thế, việc đánh giá môi trường chính trị có vai trò rất quan trọng đối với DN, đặc biệt là đối với các DN nước ngoài khi tiến hành đầu tư vào một quốc gia.
HĐKD của DN tại một quốc gia dễ dàng bị ảnh hưởng nếu tình hình chính trị tại quốc gia đó không thực sự ổn định hoặc có nhiều chính sách bất lợi cho DN.