Chương 1: Những vấn đề chung về Hội thẩm nhân dân và phiên tòa giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại 123doc 6 Chương 2: Quy định của pháp luật về việc Hội thẩm nhân dân tham gia xét xử các vụ án kinh doanh thương mại Chương 3: Thực tiễn hội thẩm nhân dân tham gia xét xử sơ thẩm các vụ án kinh doanh, thương mại tại tỉnh Ninh Thuận và một số giải pháp hoàn thiện quy định về hội thẩm nhân dân 123doc 7 CHƢƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HỘI THẨM NHÂN DÂN VÀ PHIÊN TÒA GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH DOANH THƢƠNG MẠI 1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HỘI THẨM NHÂN DÂN 1. Khái niệm về Hội thẩm nhân dân Hội thẩm nhân dân là một khái niệm không được quy định chi tiết trong một điều luật cụ thể nào.
Hiện nay, có rất nhiều cách hiểu HTND. Hiểu theo nghĩa thông thường, Từ điển tiếng Việt định nghĩa “Hội thẩm nhân dân” là “người do Hội đồng nhân dân b u ra trong một thời gian nhất định c ng với Thẩm phán làm nhiệm vụ xét xử các vụ án xảy ra địa phương”2. Trong khoa học pháp lý, thuật ngữ “Hội thẩm nhân dân” xuất phát từ thuật ngữ “Hội thẩm”. Theo khoản 2, Điều 1, Pháp lệnh số 02/2002/PL-UBTVQH 11, ngày 04 tháng 10 năm 2002 của U ban Thường vụ Quốc hội về Thẩm phán và Hội thẩm TAND định nghĩa3 và Điều 3 Luật Tổ chức TAND năm 20024quy định, ở nước ta, Hội thẩm TAND gồm có: “- Hội thẩm nhân dân tham gia xét xử các vụ án thuộc thẩm quyền xét xử của TAND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, huyện, quận, thị xã thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là Hội thẩm nhân dân).
- Hội thẩm quân nhân tham gia xét xử các vụ án thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự quân khu và tương đương, Tòa án quân sự khu vực (gọi chung là Hội thẩm quân nhân)”. 2 Viện Ngôn ngữ học, 1988. Từ điển Tiếng Việt. Hà Nội: Nhà xuất bản Từ điển Bách khoa; 3 Khoản 2, Điều 1, Pháp lệnh số 02/2002/PL-UBTVQH 11, ngày 04 tháng 10 năm 2002 của U ban Thường vụ Quốc hội về Thẩm phán và Hội thẩm Tòa án nhân dân được định nghĩa, “Hội thẩm là người được b u ho c cử theo quy định của pháp luật để làm nhiệm vụ xét xử những vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án”.
4 Điều 3, Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2002 quy định: “Chế độ b u TND được thực hiện đối với các Tòa án nhân dân địa phương. Chế độ cử Hội thẩm quân nhân được thực hiện đối với các Tòa án quân sự quân khu và tương đương, các Tòa án quân sự khu vực”. 123doc 8 Trong phạm vi luận văn của mình, người viết chỉ nghiên cứu các vấn đề liên quan đến HTND tham gia xét xử vụ án KD, TM tại TAND theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam. Khái quát quá trình hình thành và phát triển chế định Hội thẩm nhân dân ở nƣớc ta Việt Nam cũng như nhiều quốc gia khác, ngay từ thời kỳ đầu xây dựng nhà nước dân chủ đã ghi nhận việc người dân tham gia vào hoạt động xét xử của Tòa án.
Điều 65 Hiến pháp 1946 quy định: “Trong khi xét xử việc hình thì phải có phụ thẩm nhân dân để ho c tham gia ý kiến nếu là việc tiểu hình, ho c cùng quyết định với thẩm phán nếu là đại hình”. Theo đó, người dân chỉ tham gia vào hoạt động xét xử giới hạn ở các vụ án hình sự chứ không phải tham gia xét xử vụ án thuộc mọi lĩnh vực. Và trong xét xử vụ án hình sự, thì không phải lúc nào người dân cũng cùng ngồi với Thẩm phán để ra phán quyết, việc tiểu hình thì ý kiến của Phụ thẩm chỉ mang tính chất tham khảo cho Thẩm phán. Có thể thấy, Hiến pháp 1946 đã vận dụng rất linh hoạt sự tham gia của người dân trong hoạt động xét xử của Tòa án.
Hiến pháp 1946 thể hiện nhận thức xét xử là hoạt động của Nhà nước, vì vậy, công việc này chủ yếu vẫn phải là Thẩm phán thực hiện, người dân tham gia đúng như tên gọi là “phụ” cùng với Thẩm phán khi thực sự cần thiết.5 Sắc lệnh số 13/SL, ngày 24-1-1945 ra đời, đây là văn bản pháp luật đầu tiên quy định việc tổ chức các Tòa án và ngạch Thẩm phán. Đây cũng là văn bản đầu tiên ghi nhận sự tham gia của Nhân dân vào trong hoạt động xét xử của Tòa án với tên gọi “Phụ thẩm”, sắc lệnh này quy định tương đối đầy đủ quyền và nghĩa vụ của Phụ thẩm cũng như việc tuyển cử, tham gia của Phụ thẩm vào hoạt động xét xử của Tòa án. Địa vị pháp lý của HTND được ghi nhận trong Hiến pháp 1959, Luật tổ chức TAND năm 1960 và các văn bản pháp luật khác. Nguyên tắc xét xử có HTND tham 5 ThS.
Hoàng Thị Minh Phương – ThS. Thái Thị Thu Trang, 2018. “Chế định Hội thẩm theo Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014”. Tạp chí Tòa án nhân dân, số 14, trang 37.
123doc 9 gia (Điều 99), nguyên tắc Tòa án xét xử độc lập (Điều 100) đã chính thức được ghi nhận trong Hiến pháp 1959; địa vị pháp lý của HTND được nâng lên ngang quyền với Thẩm phán trong hoạt động xét xử6. Việc tham gia xét xử của HTND ở các cấp Tòa án theo Luật tổ chức TAND năm 1960 cũng được mở rộng hơn so với các quy định trước đây. HTND chủ yếu tham gia xét xử ở cấp sơ thẩm, còn cấp phúc thẩm, HTND chủ yếu tham gia trong trường hợp đặc biệt; thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có một Thẩm phán và hai HTND; trường hợp xét xử những vụ án nhỏ, đơn giản và không quan trọng thì có thể không có HTND tham gia. Để tiếp tục hoàn thiện chế định HTND tham gia xét xử tại Tòa án, có nhiều văn bản quy định về HTND như: BLTTHS năm 19887, Hiến pháp năm 19928, Hiến pháp năm 2013, Pháp lệnh Thẩm phán và HTND năm 1993, Pháp lệnh Thẩm phán và HTND năm 20029, Luật Tổ chức Tòa án năm 2002; BLTTHS năm 2003, BLTTDS năm 200410, Luật Tố tụng hành chính năm 2010, Quy chế tổ chức và hoạt động của Hội thẩm TAND năm 2005, BLTTDS năm 2015, BLTTHS 2015, Bộ luật Tố tụng hành chính năm 2015.
Những đạo luật này đã cụ thể hóa thành những quy định về vị trí, vai trò cũng như nhiệm vụ, quyền hạn của HTND trong từng lĩnh vực tố tụng cụ thể. Sơ lƣợc về chế định Hội thẩm nhân dân và bồi thẩm đoàn trong việc tham gia tố tụng ở một số nƣớc trên thế giới 1. Hội thẩm nhân dân ở Trung Quốc Trung Quốc không có hệ thống bồi thẩm theo cách mà khái niệm này được hiểu ở các hệ thống pháp luật phương Tây và Thông luật11. Luật tổ chức TAND của 6 Điều 11 Luật tổ chức TAND năm 1960; 7 Sửa đổi bổ sung năm 2000; 8 Sửa đổi bổ sung năm 2001; 9 Sửa đổi bổ sung năm 2011; 10 Sửa đổi, bổ sung năm 2011; 11 Phó Giáo sư Vivienne Bath - Đại học Tổng hợp Sydney và Phó Giáo sư Sarah Biddulph - Đại học Tổng hợp Melbourne, 2010.
Bài “Nghiên cứu tổ chức và hoạt động của hệ thống tư pháp năm nước chọn lọc (Trung Quốc, Indonesia, Nhật Bản, Cộng hòa Hàn Quốc và Liên bang Nga)”, tr. 123doc 10 Trung Quốc quy định Tòa hợp nghị do các Thẩm phán tham gia hoặc Thẩm phán cùng với Hội thẩm viên nhân dân tiến hành xét xử sơ thẩm các vụ án mà TAND đã thụ lý hồ sơ. Điều kiện để công dân Trung Quốc được đảm nhiệm vai trò Hội thẩm viên nhân dân là: - Từ đủ 23 tuổi trở lên; - Có sức khoẻ tốt; - Có phẩm chất đạo đức tốt, có lập trường tư tưởng đúng đắn; - Trung thành với Hiến pháp nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa; Bên cạnh đó, Trung Quốc cũng quy định Ủy viên U ban thường vụ Đại hội đại biểu nhân dân, cán bộ Tư pháp công tác tại TAND, VKSND, cơ quan Công an, cơ quan an ninh quốc gia, cơ quan hành chính Tư pháp, Luật sư đều không được đảm nhận vai trò Hội thẩm viên nhân dân. Hội thẩm nhân dân ở Liên bang Nga Công dân Liên bang Nga12 từ 25 tuổi trở lên, là người không có án tích, có đủ năng lực hành vi pháp lý hoặc không bị hạn chế về năng lực hành vi pháp lý hoặc không có tên đăng ký tại cơ sở khám chữa bệnh nghiện ma túy hoặc loạn thần kinh chức năng để điều trị cai nghiện rượu, ma túy, nhiễm độc hoặc bệnh thần kinh kinh niên và trầm trọng có thể được đưa vào danh sách ứng cử viên bồi thẩm.
Người bị tình nghi hoặc cáo buộc phạm tội hình sự, hoặc không dùng được ngôn ngữ được sử dụng trong xét xử, hoặc người có khiếm khuyết về thể chất hoặc tinh thần làm cản trở sự tham gia đầy đủ, hiệu quả vào quá trình tòa án xét xử vụ án hình sự, cũng bị loại trừ. Danh sách chung và danh sách ứng cử viên dự bị cần được lựa chọn làm bồi thẩm viên được lập theo quy định của Luật liên bang về bồi thẩm viên tòa án liên bang thẩm quyền chung ở Liên bang Nga ngày 20/8/2004 (đã sửa đổi, bổ sung). Ứng cử viên để bổ nhiệm Hội thẩm viên thương mại được lựa chọn theo kiến nghị của các Phòng thương mại và công nghiệp; các Hiệp hội doanh nhân hoặc các 12 Phó Giáo sư Vivienne Bath - Đại học Tổng hợp Sydney và Phó Giáo sư Sarah Biddulph - Đại học Tổng hợp Melbourne, 2010. Bài “Nghiên cứu tổ chức và hoạt động của hệ thống tư pháp năm nước chọn lọc (Trung Quốc, Indonesia, Nhật Bản, Cộng hòa Hàn Quốc và Liên bang Nga)”, tr.903-909; 123doc 11 Hiệp hội chuyên môn khác.
Danh sách hội thẩm viên phải được Hội đồng thẩm phán Tòa án thương mại tối cao phê chuẩn và họ tên hội thẩm viên được công bố trên công báo của Tòa án thương mại tối cao. Mỗi thẩm phán thương mại xét xử vụ việc ở cấp sơ thẩm phải có ít nhất hai hội thẩm viên thương mại. Hội thẩm viên thương mại có nhiệm kỳ hoạt động 2 năm và có thể được bổ nhiệm lại. Thù lao được trả dựa theo công thức có tính đến số ngày làm việc và mức thù lao của địa phương.