phần mở đầu, kết luận, danh mục bảng, hình, hộp, sơ đồ , tài liệu tham khảo và phụ lục, luận án đƣợc kết cấu thành 5 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1: Tổng quan các tài liệu nghiên cứu liên quan đến đề tài Chƣơng 2: Cơ sở khoa học về chuỗi giá trị toàn cầu của ngành hàng chè Chƣơng 3: Phƣơng pháp nghiên cứu, thu thập và xử lý số liệu Chƣơng 4: Sự tham gia của Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu ngành hàng chè Chƣơng 5: Hàm ý chính sách nhằm nâng cao vị thế của Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu ngành hàng chè 15 z CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. Nội dung các tài liệu liên quan đến vấn đề nghiên cứu Cho đến nay, có nhiều nghiên cứu ở các mức độ khác nhau liên quan đến vấn đề nghiên cứu của Luận án, có thể tóm tắt theo ba nhóm nội dung cơ bản: 1. Các nghiên cứu về chuỗi giá trị toàn cầu của ngành hàng chè và đặc điểm của chuỗi Huque (2007) đã phân tích chuỗi giá trị ngành hàng chè tại các quốc gia đang phát triển và những vấn đề mà các quốc gia này phải đối mặt do sự quản lý chuỗi giá trị kém hiệu quả. Công trình cũng đƣa ra những giải pháp chiến lƣợc áp dụng mô hình ngành hàng chè của các quốc gia phát triển để thực hiện nâng cấp vị trí của các quốc gia đang phát triển trong chuỗi giá trị chè toàn cầu.
Nghiên cứu này tập trung vào phân tích mô hình ngành hàng chè ở hai quốc gia: Bangladesh (quốc gia đang phát triển) và Nhật Bản (quốc gia phát triển). Thuật ngữ “chuỗi giá trị” lần đầu đƣợc mô tả và phổ cập bởi Micheal Porter (1985) trong cuốn sách“Competitive Advantage: Creating and Sustaining Superior Performance”. Chuỗi giá trị là khái niệm mô tả toàn bộ những hoạt động cần thiết để đƣa một sản phẩm hay dịch vụ từ khái niệm, đi qua các công đoạn sản xuất khác nhau (liên quan đến việc kết hợp giữa chuyển hóa vật chất và đầu vào các dịch vụ sản xuất khác nhau), đƣa đến ngƣời tiêu dùng sau cùng, và bố trí sau sử dụng. Sản phẩm đi qua tất cả các hoạt động của các chuỗi theo thứ tự và tại mỗi hoạt động sản phẩm thu đƣợc một số giá trị nào đó.
Chuỗi các hoạt động cung cấp cho các sản phẩm nhiều giá trị gia tăng hơn tổng giá trị gia tăng của tất cả các hoạt động cộng lại. Theo mô hình Michael Porter, chuỗi giá trị bao gồm 3 thành phần chính: hoạt động chính, hoạt động hỗ trợ và lợi nhuận. Nhóm hoạt động chính là những hoạt động liên quan trực tiếp đến việc tạo ra giá trị cho sản phẩm, bao gồm: Vận chuyển đầu vào (inbound logistics), vận hành sản xuất, vận chuyển đầu ra (outbound 16 z logistics), tiếp thị sản phẩm và dịch vụ. Nhóm hoạt động bổ trợ gồm các hoạt động song song với hoạt động chính để hỗ trợ cho việc tạo ra sản phẩm, bao gồm: mua hàng, phát triển công nghệ, quản lý nhân lực và cở sở hạ tầng.
Lợi nhuận là phần chênh lệch giữa doanh thu và chi phí. Trong mô hình chuỗi giá trị thì doanh thu là giá trị bán ra của sản phẩm. Giá trị này đƣợc tạo ra thông qua các khâu trong chuỗi giá trị. Mô hình chuỗi giá trị của Michael Porter là một tài liệu tham khảo hữu ích để hình thành khung khổ lý thuyết cho phân tích chuỗi giá trị của các ngành hàng.
Kaplinsky (2000) cũng đƣa ra khái niệm về chuỗi giá trị: “Chuỗi giá trị nói đến một loạt các hoạt động cần thiết để biến một một sản phẩm (hoặc dịch vụ) từ lúc còn là khái niệm, thông qua các giai đoạn sản xuất khác nhau, đến khi phân phối đến ngƣời tiêu dùng cuối cùng và vất bỏ sau khi đã sử dụng. Tiếp đó, một chuỗi giá trị tồn tại khi tất cả những ngƣời tham gia trong chuỗi hoạt động để tạo ra tối đa giá trị lợi nhuận trong chuỗi.” Cùng quan điểm với cách tiếp cận của nghiên cứu trên, nghiên cứu “The dairy industry in Vietnam: A value chain approach”(Nguyen Viet Khoi, 2014) đã phân tích khá chi tiết và toàn diện chuỗi giá trị của ngành hàng sữa Việt Nam để đƣa ra mức độ gia tăng giá trị trong các khâu của chuỗi giá trị ngành hàng sữa Việt Nam. Đây là một tài liệu tham khảo giúp luận án có những góc nhìn khác nhau về việc xây dựng các chuỗi giá trị khác nhau trong các ngành hàng ở Việt Nam. Nghiên cứu “Sources of competitive advantage and firm performance: The case of Sri Lankan value-added tea producers” (Ariyawardana, 2003) đăng trên tạp chí Asia Pacific Journal of Management phân tích tài nguyên phát triển ngành hàng chè đứng trên quan điểm mô hình lợi thế cạnh tranh và giải thích cách mà giá trị gia tăng đƣợc tạo ra bởi các tác nhân trong từng khâu của chuỗi: nghiên cứu trƣờng hợp ngành công nghiệp chè Sri Lanka.
Công trình phân tích sâu về việc quản lý các nguồn lực và tận dụng lợi thế cạnh tranh của các nguồn lực đó để phát triển ngành hàng chè ở Sri Lanka. Quá trình toàn cầu hóa diễn ra càng nhanh, chuỗi giá trị càng đƣợc sử dụng phổ biến hơn, chuỗi giá trị còn đƣợc áp dụng để phân tích toàn cầu hóa (Gereffi và 17 z Korzeniewicz, 1994; Kaplinsky, 1999). Trong khuôn khổ chuỗi giá trị, các mối quan hệ thƣơng mại quốc tế đƣợc coi là một phần của các mạng lƣới những nhà sản xuất, xuất khẩu, nhập khẩu và bán lẻ, trong đó tri thức và quan hệ đƣợc phát triển để tiếp cận đƣợc các thị trƣờng và các nhà cung cấp. Sự thành công của các nƣớc đang phát triển phụ thuộc vào khả năng tiếp cận mạng lƣới này.
Kaplinsky và Morris (2001) nhấn mạnh rằng không có một phƣơng pháp chuẩn để phân tích chuỗi giá trị mà phƣơng pháp đƣợc chọn chủ yếu dựa vào câu hỏi nghiên cứu đang tìm câu trả lời. Tuy nhiên, bốn khía cạnh phân tích trong chuỗi giá trị đƣợc áp dụng trong nông nghiệp rất đáng lƣu ý là: - Lập sơ đồ một cách hệ thống các bên tham gia vào sản xuất, phân phối, tiếp thị và bán một hoặc nhiều sản phẩm cụ thể; - Phân tích chuỗi giá trị có vai trò trung tâm trong việc xác định sự phân phối lợi ích của những ngƣời tham gia trong chuỗi; - Phân tích chuỗi giá trị có thể dùng để xác định vai trò của việc nâng cấp chuỗi giá trị; - Phân tích chuỗi giá trị có thể nhấn mạnh vai trò của quản trị trong chuỗi giá trị. Các nghiên cứu liên quan tới những nhân tố ảnh hưởng đến chuỗi giá trị toàn cầu của một mặt hàng/ngành hàng chè và những nhân tố ảnh hưởng tới sự tham gia của Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu của ngành hàng chè Trong nghiên cứu “Uganda’s tea sub-sector: A comparative review of trends, challenges and coordination fairlures” (Ezra, M., 2014), các tác giả sử dụng phƣơng pháp phân tích ngành hàng chè cụ thể tại Uganda – quốc gia có lợi thế lớn về sản xuất chè. Nghiên cứu đã đánh giá sự phát triển chƣa tƣơng xứng với tiềm năng của ngành hàng chè nơi đây qua đó phân tích sự bất hợp lý trong các khâu nhƣ: thu hoạch, chế biến, nghiên cứu và đổi mới về chè.
Đặc biệt hơn, nghiên cứu phân tích ba nhân tố đƣợc coi là kìm hãm lớn với ngành hàng chè Uganda là sự điều tiết chính sách, sự thiếu phối hợp giữa các khâu, các mắt xích trong chuỗi hay các hiệp hội ngành hàng chè và quá trình phân phối sản phẩm bất cập, thiếu hiệu quả. Từ đó, tác giả đề xuất những giải pháp để nâng cấp ngành hàng chè. 18 z Tác phẩm “Industrialization and global value chain participation: an examination of constraints faced by the private sector in Nepal” (Basnett, Y., 2014) đã giới thiệu về ngành hàng chè ở Nepal, qua đó đề cập đến những mặt còn làm hạn chế lợi thế cạnh tranh của ngành chè nơi đây. Ngành hàng chè Nepal rất quan tâm tới việc phát triển lá chè hữu cơ song song với việc phát triển xuất khẩu lá chè thƣờng.
Theo đó, giá của lá chè hữu cơ cũng sẽ cao hơn từ 60-70% so với lá chè thƣờng. Nepal là nƣớc đóng góp chủ yếu trong chuỗi giá trị ngành hàng chè thế giới ở khâu sản xuất và trồng chè, đối tác chính của Nepal là Ấn Độ trong cả khâu nhập khẩu các nguyên liệu đầu vào cho việc trồng chè và xuất khẩu sản phẩm chè cuối cùng. Nghiên cứu cũng đề cập tới việc sơ đồ hóa ngành hàng chè tại đây với các khâu từ chọn chè, hái lƣợm, rang xay, đóng gói, xuất khẩu… Những phân tích về ngành hàng chè tại Nepal, quốc gia có nhiều điểm tƣơng đồng với Việt Nam, sẽ mang lại những kinh nghiệm quý giá trong việc phân tích những khó khăn và đƣa ra giải pháp cho việc nâng cao vị trí của Việt Nam trong chuỗi giá trị ngành hàng chè thế giới. Đề tài nghiên cứu “Hoạch định chiến lược thâm nhập thị trường thế giới cho sản phẩm chè của Việt Nam đến năm 2020” của Nguyễn Trung Đông đã nghiên cứu ngành hàng chè dƣới góc độ cạnh tranh xuất khẩu và đƣa ra chiến lƣợc thâm nhập vào thị trƣờng thế giới cho các sản phẩm chè Việt Nam.
Nghiên cứu này đã tập trung phân tích thực trạng xuất khẩu chè của Việt Nam, đánh giá năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp xuất khẩu chè ở Việt Nam, điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức đối với xuất khẩu mặt hàng chè khi Việt Nam trở thành một thành viên của WTO và đề xuất những giải pháp chiến lƣợc thâm nhập thị trƣờng chè thế giới. Tác giả Nguyễn Thị Thu Nga trong đề tài “Phát triển ngành hàng chè Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế” đã phân tích, đánh giá tổng quan thực trạng hoạt động của ngành hàng chè, từ đó đề xuất những giải pháp phát triển ngành hàng chè tốt hơn trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Cùng quan điểm với nghiên cứu này, tác giả Phùng Văn Chấn trong đề tài “Kinh tế sản xuất và xuất khẩu chè” cũng đã tập trung phân tích thực trạng và khả năng phát triển sản xuất chè ở 19 z Việt Nam và đề xuất những giải pháp kinh tế xã hội phát triển sản xuất chè ở Việt Nam, đặc biệt những vùng có lợi thế trồng chè .