Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC THAM GIA CHUỖI GIÁ TRỊ DỆT MAY TOÀN CẦU 1. Các khái niệm cơ bản về chuỗi giá trị dệt may toàn cầu 1. Khái niệm chuỗi giá trị toàn cầu Trước khi tìm hiểu về chuỗi giá trị toàn cầu, cần phải làm rõ chuỗi giá trị là gì? Chuỗi giá trị nói đến một loạt các hoạt động cần thiết để biến một sản phẩm (hoặc dịch vụ) từ lúc còn là khái niệm, thông qua các giai đoạn sản xuất khác nhau, đến khi phân phối đến người tiêu dùng cuối cùng và vứt bỏ sau khi đã sử dụng. Tiếp đó, một chuỗi giá trị tồn tại khi tất cả những người tham gia trong chuỗi hoạt động để tạo ra tối đa giá trị trong toàn chuỗi [24, tr.
Định nghĩa này có thể giải thích theo nghĩa hẹp và nghĩa rộng như sau: Theo nghĩa hẹp: Một chuỗi giá trị gồm một loạt các hoạt động thực hiện trong một công ty để sản xuất ra một sản phẩm nhất định. Các hoạt động này có thể gồm: giai đoạn xây dựng khái niệm và thiết kế, quá trình mua vật tư đầu vào, sản xuất, tiếp thị và phân phối, thực hiện các dịch vụ hậu mãi….Tất cả các hoạt động này tạo thành một “chuỗi” kết nối người sản xuất với người tiêu dùng. Mặt khác, mỗi hoạt động lại bổ sung giá trị cho thành phẩm cuối cùng. Theo nghĩa rộng: Chuỗi giá trị là một phức hợp những hoạt động do nhiều người tham gia khác nhau thực hiện (người sản xuất sơ cấp, người lắp ráp, người cung ứng dịch vụ.) để sản xuất ra bất cứ một hàng hóa hay dịch vụ nào đó.
Quy trình sản xuất một sản phẩm và dịch vụ theo một trật tự đầy đủ các hoạt động tạo giá trị gia tăng cần thiết để đưa sản phẩm chuyển từ khái - 10 - z niệm đến thiết kế, tìm kiếm nhà cung ứng, chế tạo các bộ phận linh kiện, lắp ráp, khai thác thị trường và tiếp thị, phân phối và hỗ trợ cho người tiêu dùng cuối cùng để tạo thành một chuỗi giá trị. Cách tiếp cận theo nghĩa rộng không xem xét các hoạt động do một doanh nghiệp duy nhất tiến hành, mà nó xem xét cả các mối liên kết ngược và xuôi cho đến khi một sản phẩm được sản xuất được kết nối với người tiêu dùng cuối cùng. Từ khái niệm trên cho thấy chuỗi giá trị là toàn bộ các hoạt động mà công ty thực hiện khi tạo ra một sản phẩm kể từ khi nó bắt đầu được phát minh đến khi nó được bán ra thị trường cũng như những sản phẩm dịch vụ sau bán hàng có liên quan tới sản phẩm đó. Những hoạt động trong chuỗi giá trị bao gồm: thiết kế, sản xuất, marketing, phân phối và các dịch vụ cung cấp cho khách hàng cuối cùng.
Tổng hợp của các hoạt động này tạo nên một chuỗi giá trị. Chuỗi giá trị có thể được tạo ra bởi một công ty và cũng có thể được tạo ra bởi nhiều công ty khác nhau. Các hoạt động trong chuỗi giá trị không chỉ bao gồm cả hoạt động sản xuất hàng hóa hữu hình mà còn bao gồm các hoạt động dịch vụ. Một số nhà nghiên cứu chia chuỗi giá trị thành chuỗi giá trị giản đơn và chuỗi giá trị mở rộng.
Chuỗi giá trị giản đơn được hiểu như là chuỗi của các hoạt động cơ bản từ điểm đầu đến điểm cuối của một sản phẩm, ví dụ thiết kế, sản xuất, phân phối và tiêu dùng. Chuỗi giá trị mở rộng là chuỗi chi tiết hóa các hoạt động cơ bản trong chuỗi giá trị giản đơn, mức độ chi tiết hóa các hoạt động cơ bản càng cao càng cho ta thấy sự tham gia của các thành phần trong chuỗi. Nhắc tới chuỗi giá trị, không thể không nhắc tới 3 đặc điểm quan trọng nhất về chuỗi giá trị đó là nó tạo ra liên kết giữa các doanh nghiệp, các khâu trong chuỗi tuân theo một tiêu chuẩn và lợi nhuận được chia sẻ theo khả năng tham gia vào chuỗi của các bên. Tạo ra liên kết giữa các doanh nghiệp thông qua làm việc cùng nhau trong chuỗi giá trị.
Đặc điểm này đòi hỏi những người quản lý chuỗi giá trị phải có chính sách điều phối tốt để đưa ra những quyết định kịp thời quá trình vận hành của chuỗi. Trong chuỗi giá trị, tất cả các khâu đều phải được tuân theo một tiêu chuẩn và luôn cần được cải tiến để có thể tăng khả năng cạnh tranh với các chuỗi khác. Chuỗi giá trị thành công khi lợi nhuận tạo ra trong chuỗi được chia sẻ một cách hợp lý cho các bên tham gia. Như vậy, các bên tham gia vào chuỗi giá trị mới có thêm động lực phát huy hết vai trò của họ trong chuỗi.
Trong chuỗi giá trị có thể chia thành ba giai đoạn chính: Thượng nguồn gồm các công đoạn nghiên cứu và triển khai (R&D), thiết kế, sản xuất các bộ phận linh kiện chính. Trung nguồn gồm công đoạn lắp ráp, gia công. Hạ nguồn là tiếp thị, xây dựng mạng lưới lưu thông, khai thác và tiếp cận thị trường. Ba giai đoạn này kết hợp thành một chuỗi giá trị của một sản phẩm.
Thông thường trong chuỗi giá trị của một ngành thì giá trị gia tăng sẽ được tạo ra nhiều nhất ở khâu R&D và marketing, tiếp đến là khâu thiết kế và phân phối, còn khâu sản xuất, gia công và lắp ráp sẽ tạo ra giá trị gia tăng thấp nhất. Chính vì vậy, các nước phát triển có thương hiệu nổi tiếng trên thế giới chỉ tập trung vào các khâu tạo ra giá trị gia tăng cao, còn những khâu tạo ra giá trị gia tăng thấp sẽ được chuyển sang các nước khác, trong đó chủ yếu là chuyển cho các doanh nghiệp của các nước đang phát triển. Chuỗi giá trị có thể diễn ra trong một phạm vi hẹp nhưng cũng có thể diễn ra ở phạm vi toàn cầu. Chuỗi giá trị của một sản phẩm hay dịch vụ diễn ra qua nhiều nước trên phạm vi toàn cầu thì chuỗi giá trị đó được gọi là chuỗi giá trị toàn cầu [24] - 12 - z Dự án nghiên cứu kinh doanh quốc tế Việt Nam năm 2005 có định nghĩa về chuỗi giá trị toàn cầu như sau: Chuỗi giá trị toàn cầu là mạng lưới toàn cầu của các quá trình lao động, quá trình sản xuất và kết quả cuối cùng là một sản phẩm hoàn chỉnh được tiêu thụ Khái niệm về chuỗi giá trị kể trên cho thấy có sự tương đồng giữa các khái niệm “chuỗi giá trị”, “chuỗi cung ứng” và “mạng sản xuất toàn cầu”.
Về bản chất, “chuỗi giá trị” và “chuỗi cung ứng” đều nhắm tới việc tạo giá trị gia tăng cho một hoạt động nhất định. Nếu các hoạt động đó, vượt ra khỏi phạm vi biên giới quốc gia thì được hiểu là “chuỗi giá trị toàn cầu” và “chuỗi cung ứng toàn cầu”. Điểm khác nhau cơ bản giữa các khái niệm trên là: - Thước đo trong “chuỗi giá trị” là khả năng tạo giá trị gia tăng cho sản phẩm trên cơ sở nâng cao giá trị gia tăng trong mỗi “mắt xích” của chuỗi cung cấp sản phẩm cho người tiêu dùng. - Thước đo của “chuỗi cung ứng” là khả năng tiết giảm chi phí cho việc sản xuất và phân phối sản phẩm.
- “Mạng sản xuất” nhấn mạnh đến các liên kết bên trong hoặc giữa các nhóm công ty trong một chuỗi giá trị để sản xuất, phân phối và hỗ trợ tiêu dùng các sản phẩm cụ thể. Lý thuyết chuỗi giá trị của Michael E. Porter Phương pháp chuỗi giá trị được Michael E. Porter đưa ra vào những năm 1980 trong cuốn sách “Lợi thế cạnh tranh: Tạo lập và duy trì thành tích vượt trội trong kinh doanh” xuất bản vào năm 1985, được dịch sang tiếng Việt vào năm 2009 [7, tr.
Khái niệm về giá trị gia tăng trong khuôn khổ chuỗi giá trị được coi như là yếu tố để tạo nên và duy trì lợi thế cạnh tranh bền vững của một tổ chức trong kinh doanh ở thế kỷ 21. Porter, khái niệm chuỗi giá trị được sử dụng nhằm giúp các - 13 - z doanh nghiệp có thể tìm ra các lợi thế cạnh tranh (thực tế và tiềm năng) của mình. Ông cho rằng, một công ty có thể cung cấp cho khách hàng một sản phẩm hay một dịch vụ có giá trị tương đương với đối thủ cạnh tranh của mình với chi phí thấp hơn hoặc chi phí cao hơn nhưng có những đặc tính mà khách hàng mong muốn. Porter đã lập luận rằng, nếu nhìn vào một doanh nghiệp như là một tổng thể những hoạt động, những quá trình thì khó, thậm chí là không thể, tìm ra được một cách chính xác lợi thế cạnh tranh của họ là gì.
Nhưng điều này có thể thực hiện được dễ dàng khi phân tách thành những hoạt động bên trong. Theo cách đó, Porter phân biệt rõ giữa các hoạt động cơ bản hay những hoạt động chính, trực tiếp góp phần tăng thêm giá trị cho sản xuất hàng hóa (hoặc dịch vụ) và các hoạt động bổ trợ có ảnh hưởng gián tiếp đến giá trị cuối cùng của sản phẩm. Các hoạt động chính là những hoạt động hướng đến việc chuyển đổi về mặt vật lý và quản lý sản phẩm hoàn thành để cung cấp cho khách hàng. Hậu cần đến và hậu cần ra ngoài là các thành tố quan trọng và then chốt của chuỗi giá trị, đây chính là yếu tố tạo ra “giá trị” cho khách hàng của doanh nghiệp và mang lại lợi ích tài chính cho công ty.
Việc tích hợp một cách sâu rộng các chức năng sản xuất, bán hàng, marketing với hậu cần cũng là một tiêu thức quan trọng của chuỗi giá trị. Các hoạt động bổ trợ cho phép hoặc hỗ trợ các hoạt động chính. Chúng có thể hướng đến việc hỗ trợ một hoạt động chính cũng như hỗ trợ các tiến trình chính. Cụ thể các hoạt động trong chuỗi giá được minh họa ở hình 1.1 - Mô hình Chuỗi giá trị của Michael E.
Porter Nguồn: Competitive Advantage: Creating and Sustaining Superior Performance (Michael E. Porter, 2009) Porter phân biệt và nhóm gộp thành năm hoạt động chính: Hậu cần đến (inbound logistics): Những hoạt động này liên quan đến việc nhận, lưu trữ và dịch chuyển đầu vào sản phẩm, chẳng hạn như quản trị nguyên vật liệu, kho bãi, kiểm soát tồn kho, lên lịch trình xe cộ và trả lại sản phẩm cho nhà cung cấp. Sản xuất: Các hoạt động tương ứng với việc chuyển đổi đầu vào thành sản phẩm hoàn thành, chẳng hạn như gia công cơ khí, đóng gói, lắp ráp, bảo trì thiết bị, kiểm tra, in ấn và quản lý cơ sở vật chất.