Chương 1: Cơ sở lý luậnvềThẩm định tài chính dự án đầu tư có sử dụng đất tạingân hàng thương mại Chương 2: Thực trạngThẩm định tài chính dự án đầu tư có sử dụng đất tại ngân hàng TMCP Sài Gòn - Hà Nội CN Thái Bình Chương 3: Giải pháp hoàn thiệnThẩm định tài chính dự án đầu tư có sử dụng đất tại ngân hàng TMCP Sài Gòn - Hà Nội CN Thái Bình 9 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀTHẨM ĐỊNH TÀI CHÍNH DỰ ÁN ĐẦU TƢCÓ SỬ DỤNG ĐẤTTẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.Dự án đầu tƣcósử dụng đất 1. Kháiniệmdự án và dự án đầu tư có sử dụng đất “Đầu tư có vai trò hết sức quan trọng không chỉ đối với chủđầu tưmà còn liên quan tới rất nhiều các chủ thể khác nhau,trênnhiềuphương diện và ở mứcđộkhác nhau. Đây làmột trongnhững lí do quan trọng để tiến hành các hoạt động đầu tư theo dự án.Đócũng lại là lí do giải thích có nhiều khái niệmvềdự án đầu tư(DAĐT), trong đó códự án đầu tư có sử dụng đất;nhưng người tavẫn chưa đưa ra một định nghĩa thật hoàn chỉnh à chính xác.” “Mỗi chủ thể liên quan đến hoạt động đầu tư dưới những góc độ khác nhau sẽ đưa ra xem xét nhữngđịnh nghĩa khác nhauvề DAĐT. Cụ thể là: Theo luậtđầu tưnăm2014: “Dự án đầu tư là tập hợp các đề xuất bỏ vốn trung và dài hạn để tiến hànhcác hoạt độngđầutưtrên địa bàn cụ thể, trong khoảng thời gian xác định”.Các đề xuấtđầu tưcó thể vào các ngành và lĩnh vực khác nhau, được phân thành các loại các nhau theo tên từng ngành đó, nhưđầu tư nông nghiệp, đầu tưcông nghiệp,đầu tưvăn hóa giáo dục.
Cácdự áncó thể hướng đến sự phát triển gọi là dự án đầu tưphát triển và hướng tới lợi nhuận gọi làdự ánkinh doanh. Trong phạm vi luận văn, nhữngdự án có sử dụng đấtvào hoạt độngđầu tư được coi là dự án đầu tư có sử dụng đất. DAĐT nói chung,có sử dụng đất nói riêng còn cóthể được xem xét từnhiều góc độ: Về mặt hình thức, theo giáo trình Lậpdự án đầu tưphát triển nông nghiệp, nông thôn “Dự án đầu tư có sử dụng đất là một tập hồ sơ tài liệu trình bày một cách chi tiết và có hệ thống các hoạt động và chi phí theo một kế hoạch nhằm đạt được những kết quả và thực hiện được những mục tiêu nhất định 10 trong tương lai”. - Xét về mặt nội dung:“Dự án đầu tư có sử dụng đất là tổng thể các hoạt động và chi phí cần thiết, được bố trí theo một kế hoạch chặt chẽ với lịch thời gian và địa điểm xác định để tạo mới, mở rộng hoặc cải tạo những cơ sở vật chất nhất định nhằm thực hiện những mục tiêu nhất định trong tương lai” Như vậy, một DAĐTbao gồm 4 thành phần chính: - Mục tiêu củadự ánđược thể hiện ở hai mức: + Mục tiêuphát triển thể hiện sự đóng góp củadự ánvào việcthực hiện cácmục tiêu chung của một quốc gia.Mục tiêu nàyđược thực hiện thông qua những lợi íchdự ánmang lại cho nền kinh tếxã hội.
+ Mục tiêu trực tiếp của chủ đầu tư: Đó làcác mục tiêu cụ”thể cần đạt đượccủa việc thực hiệndự án.Mục tiêu nàyđược thực hiện thông qua những lợi ích tài chính mà chủđầu tư thu được từcácdự án. Vai trò của DAĐT, DADTcó sử dụng đất Trong thực tế, DAĐT“có sử dụng đấtcó vai tròhết sức to lớn đối với rất nhiều chủ thể kinh tế khácnhau. DAĐT là căncứ, cơ sở tốt nhấtgiúp cácnhà đầu tư,các ngân hàng thương mại,các cơ quan quản lí Nhà nước có thể đưa ra các quyết định đầu tư”đúng đắn. Cụ thể: Đối vớichủ đầu tư, DAĐT là căn cứ để quyết địnhcóđầu tư hay không, đầu tưtheo kế hoạchnhư thế nào.
Đồngthời đây cũnglà tài liệu quan trọng nhất để nhà đầu tư có thể huy động các nguồn tài trợ cho dự ántrong trường hợp họ không muốn hoặc không đủkhả năng tài trợ cho dự án. Đối vớicác nhà tài trợ nói chung, vớicácngân hàng thương mạinói riêng thìdự án đầu tưlà một trong những cơ sở quan trọng nhất để họ xem xét có nên tài trợ chodự án hay không. Đối với các cơ quan quản lí Nhà nước, dự án đầu tưlàcơ sở để xemxét,phê duyệt, cấp phép,vàcấp vốn đầu tư.Dự áncòn làcơ sở để giải quyết mối quan hệ về quyền lợi và nghĩa vụ giữa các bên. Đặc điểmdự án đầu tư có sử dụng đất Xuất phát từ khái niệm của DAĐTcó sử dụng đất,trong đó có vấn đề sử dụng nguồn lực đất,có thể nhận biết cácđặc điểmcơ bản của dự ánbao gồm: - Một là, DAĐTcó sử dụng đấtcó tính phổ biến trong các hoạt động đầu tưphát triển kinh tế - xã hội.
Đất là nguồn lực tự nhiên có vai trò trong hầu hết các hoạt động kinh tế xã hội, vừa là cơ sở tự nhiên tạo ra sản phẩm nông nghiệp đối vớiđầu tưvào nông nghiệp, vừa là chỗ“dựa điểm trongcác dự ánđầu tưvào các ngành phi nông nghiệp.Vì vây,dự án đầu tư cósửdụng đấtchiếm tỷ trọng lớn trongcác dự án đầutưphát triển kinh tế xã hội. Tuy nhiên, mỗidự án đầu tư tạo giá trị gia tăng của đầu tưkhác nhau, vì vậy việc tính toán giá trị và mức độ đóng góp của đất có khác nhau. Kinh tế sử dụng đất đã chỉ ra rằng, trong nông nghiệp yếu tố độ phì, nhất là độ phì tự nhiên và qua đó là địa tô tuyệt đối và địa tô chênh lệch là yếu tố tham gia vào quá trình tạo nêncác sản phẩm củadự án.”Trong khi đó, đối vớicác dự ánđầu tưvào các ngành phi nông nghiệp, địa tô chênh lệch là yếu tố tham gia vào quá trình tạo nên giá trị gia tăng của sản phẩm. Đây là vấn đề cần lưu ý khi thẩm định các yếu tố chi phí, khi xem xét đến yếu tố chi phí từ đất đai.
- Hai là, DAĐTcó sử dụng đấtthường là cácdự áncó giá trị lớn, nhất là các dự ánkinh doanh bất động sản. “Đặc điểm này của DADTcó sử dụng đấtbắt nguồn từ đặc tính sinh lời của đất đai, trong đó tính sinh lời gắn liền với sự tồn tại của đất, sự tồn tại của đất lại gần như vĩnh viễn.”Vì vậy, giá cả của đất nếu gắn liền với quyển sở hữu, hay quyền sử dụng dài hạn. Mỗi chế độ sở hữu gắn với đất đai khác nhau đòi hỏi sự tính toán giá trị của đất có khác nhau về phương pháp và về giá trị đất. Cụ thể: Trong chế độ sở hữu tư nhân về đất, giá trị đất được coi là vĩnh viễn đối với chủ thể sở hữu.
Vì vậy, khi tính toán giá trị của đất vào hoạt độngdự án người ta tính giá trị của đất theo thời gian của chu kỳ dự án.Trong chế độ sở hữu toàn dân về đất như ở Việt Nam, giá trị của đất được tính là giá trị của quyền sử dụng đất và phụ thuộc vào thời hạn giao đất, thời hạn của quyền sử dụng đất được giao. Đây cũng là 12 đặc điểm cần chú ý khi tính toánhiệu quả tài chính dự ánvàThẩm định tài chính dự án đầu tư có sử dụng đất, nhất là các dự án đầu tư có sử dụng đấtở Việt Nam. Ba là, DADTcó sử dụng đấtcó tính cá biệt và khan hiếm: Đặc điểm trên của dự án có sử dụng đấtcũng bắt nguồn đặc điểm của đất đai. Kinh tế sử dụng đất, khi nghiên cứu đặc điểm của tài nguyên đất đã chỉ ra rằng, đất đai có giới hạn về mặt số lượng, sự giới hạn đó được thể hiện ở giới hạn của vỏ trái đất, từ ranh giới của mỗi quốc gia, mỗi vùng, địa phương và trong từng cơ sở kinh doanh nhất định.
Sự giới hạn đó tạo thuận lợi khi xác định nguồn đất của các địa phương, nhất là các chủ đầu tư. Nhưng, đòi hỏi sử dụng đất trong các chủ thể, vớicác dự án đầu tưmột cách đầy đủ và hợp lý, tạo nên sự đa dạng trong nguồnđầu tư chi phí trong khai thác sử dụng đất và đa dạng khi tính toán khi lập dự án. Tài nguyên đất tuy giới hạn về mặt số lượng, nhưng lại tạo sức sinh lời vô hạn. Sức sinh lời vô hạn trên phương diện đầu cơ là mức độ thay đổi quan hệ cung cầu, là khả năng tạo giá trị gia tăng do biến đổi địa tô chênh lệch khiđầu tưvào đất, trong đó có sự chuyển hóa từ địa tô chênh lệch 1 sang địa tô chênh lệch 2.
Trên thực tế, một vùng đất bình thường, nhưng khi trở thành vùng“dự án đầu tư”thì giá trị của nó được tăng lên khá nhanh, ở Việt Nam tăng ở mức độ rất nhanh. Vì vậy, tính toán giá trị của đất trongdự áncần chú ý tới đặc điểm này. Nhất là khi tính toán giá trị của đất để cho vay đối với các ngân hàng. Bốn là, trong một số DADTcó sử dụng đấtquy mô lớn, vấn đề thu hồi đất cho dự ánlà rất phức tạp và có thể kéo dài.
Là mộttập hợp các hoạt động đặc thù nên dự ánphải có thời gian kết thúc.Trong bối cảnhdự án có sử dụng đất cần phải thu hồi, mọi sự chậm trễ trong thực hiện dự án sẽlàm mất đi cơ hội phát triển, kéo theo những bất lợi, tổn thất cho nhàđầu tưvà cho nền kinh tế.Phân loạidự án đầu tư cósử dụng đất Theotính chất đầu tư Trong trường hợp các hoạtđộngđầu tư gắn với đầu tư xây dựng cơ bản, hoạt 13 động đầu tưđược chia thành hình thứcđầu tư mới,đầu tư chiều sâu và đầu tưmở rộng. - “Đầu tưmới:Là đưa toàn bộ số vốn đầu tư đểxây dựng một công trình mới,mua sắm và lắp đặt các trang thiết bị mới hoặc đầu tưthành lập một đơn vị sản xuất kinh doanh mới có tư cách pháp nhân riêng. - Đầu tưmở rộng: Là đầu tưnhằmmở rộng công trình cũ để nâng cao năng suất của công trình cũ hoặc tăng thêm mặt hàng. - Đầu tư chiều sâu: Là đầu tư để cải tạo, hiện đại hóa, đồng bộ hóa dây chuyền sản xuất sản phẩm trên cơ sở công trình hiện có nhằm tăng thêm công suất hoặc thay đổi mặt hàng, hoặc nâng cao chất lượng sản phẩm hoặc thay đổi tốt hơn môi trường trong khu vực có công trình đầutư.
So vớiđầu tư mới, đầu tưchiềusâu đòi hỏi ít vốn hơn, thời gian thu hồi vốn nhanh, chi phí đào tạo lao động thấp, bộ máy quản lý”ít thay đổi. Theo nguồn vốn -“Đầu tư trực tiếp: Là hình thức đầu tưmàngười bỏ vốn trực tiếp tham gia quản lý quá trình sử dụng vốn đầu tư. - Đầu tư gián tiếp: Là hình thức đầu tư mà người bỏ vốn không trực tiếp tham gia quản lý quá trình sử dụng vốn, đây còn gọi là đầu tưtàichính.