Chương 1: Cơ sở lý luận về thẩm định tài chính Dự án đầu tư bất động sản trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại. Chương 2: Thực trạng thẩm định tài chính dự án đầu tư bất động sản trong hoạt động cho vay tại Ngân hàng TMCP Quân đội. Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng thẩm định tài chính dự án đầu tư bất động sản trong hoạt động cho vay tại Ngân hàng TMCP Quân đội. Kết luận 4 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THẨM ĐỊNH TÀI CHÍNH DỰ ÁN ĐẦU TƢ BẤT ĐỘNG SẢN TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.1 Dự án đầu tƣ Bất động sản 1.1 Khái niệm dự án đầu tư Bất động sản Theo luật đầu tư đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua và có hiệu lực từ ngày 1 tháng 7 năm 2006, “ Dự án đầu tư là tập hợp các đề xuất trung và dài hạn để tiến hành các hoạt động đầu tư trên địa bàn cụ thể, trong khoảng thời gian xác định”.
Mỗi dự án đầu tư thường bao gồm các mục tiêu cần đạt được khi thực hiện dự án, các hoạt động cụ thể của dự án và nguồn lực cần thiết để thực hiện dự án, được trình bày chi tiết và cụ thể. Đầu tư BĐS là một tập hợp các hoạt động có liên quan đến việc bỏ vốn để xây dựng mới, mở rộng, cải tạo những công trình BĐS nhằm mục đích phát triển, duy trì, nâng cao chất lượng công trình hoặc sản phẩm, dịch vụ trong một thời gian nhất định thông qua việc sử dụng các nguồn lực xác định [7, tr. Mỗi dự án đầu tư BĐS thường bao gồm các mục tiêu cần đạt được khi thực hiện dự án, các hoạt động cụ thể của dự án và nguồn lực cần thiết để thực hiện dự án, được trình bày chi tiết và cụ thể: Tính khoa học: Dự án phải được xây dựng từ những nguồn thông tin trung thực, chính xác, có nguồn gốc rõ ràng; các nội dung trong đó phải có sự liên hệ logic và chặt chẽ; có phương pháp tính toán chính xác và được trình bày cụ thể rõ ràng. Đây là yêu cầu cần đáp ứng trước tiên để đảm bảo cho việc triển khai và thực hiện thành công dự án.
Tính pháp lý: Dự án lập ra phải có cơ sở pháp lý vững chắc, không trái pháp luật, không đi ngược với chủ trương chính sách và đường lối phát triển của Nhà nước và địa phương. Nếu không đáp ứng được yêu cầu này, dự án sẽ không thể được các cơ quan hữu quan cấp phép cho triển khai. 5 Tính thực tiễn: Tức là các số liệu tính toán trong dự án không phải là mơ hồ, hư cấu. Các nội dung đề cập đến cần cụ thể, có căn cứ, xuất phát từ thực tế điều kiện tự nhiên và tình hình kinh tế xã hội.
Điều này để đảm bảo cho dự án phải có khả năng triển khai và ứng dụng trong thực tế. Tính thống nhất: Được hiểu là nội dung, hình thức, các bước tiến hành dự án cần tuân theo những quy định chung, những thông lệ quốc tế. Yêu cầu này để giúp các bên tham gia dự án, các tổ chức tài trợ, các cơ quan có thẩm quyền dễ dàng trong việc xem xét và ra quyết định. Tính giả định: Dự án được lập ra ở thời điểm hiện tại và trong quá trình lập dự án, chủ đầu tư buộc phải đưa ra những dự báo về chi phí, giá cả, về tình hình thị trường… trong tương lai để từ đó tính toán các chỉ tiêu hiệu quả và đề ra đường lối phát triển cho dự án.
Tính giả định là một tất yếu trong quá trình xây dựng dự án. Tuy vậy, những giả định đưa ra cần dựa trên sự trung thực, khách quan, có căn cứ khoa học để giảm đến mức thấp nhất sự khác biệt giữa giả định đưa ra và tình hình thực tế, từ đó giảm thiểu rủi ro độ bất định trong quá trình thực hiện dự án.2 Phân loại dự án đầu tư Bất động sản Theo loại hình đầu tư, ta có thể chia các DAĐT bất động sản ra thành bốn loại sau: DAĐT xây dựng khu đô thị, chung cư, nhà ở: Là các DA xây dựng các khu chung cư, biệt thự, nhà ở cùng với cơ sở hạ tầng đường xá đi kèm nhằm mục đích đưa vào kinh doanh (để bán hoặc cho thuê); Dự án xây dựng nhà tại nơi đã có sẵn cơ sở hạ tầng: Là dự án xây dựng nhà ở tại các khu vực đã có sẵn cơ sở hạ tầng; Dự án xây dựng mặt bằng cho thuê: Là các DA xây dựng văn phòng, siêu thị, trung tâm thương mại, nhà kho… để cho thuê; DAĐT phát triển BĐS du lịch: Là các DAĐT xây dựng các khu du lịch nghỉ dưỡng (resort), xây dựng khu du lịch dịch vụ, giải trí, nhà nghỉ, khách sạn và các BĐS khác phục vụ hoạt động du lịch.3 Đặc điểm dự án đầu tư Bất động sản Các dự án đầu tư BĐS có những đặc điểm tương tự như đặc điểm của dự án đầu tư phát triển, ngoài ra, các dự án đầu tư BĐS còn mang một số đặc trưng riêng đối với lĩnh vực đầu tư như: Các dự án đầu tư BĐS thường đòi hỏi vốn lớn, bên cạnh giá trị đầu tư xây dựng công trình thì giá đất cũng chiếm một phần lớn giá trị của dự án Các dự án đầu tư BĐS thường có thời gian đầu tư dài, bao gồm: thời gian giải phóng mặt bằng và thời gian xây dựng công trình. Vì vậy, các dự án này thường phải chịu những rủi ro khi xảy ra biến động về tình hình lạm phát, giá cả vật liệu, những rủi ro về mặt thị trường, cung cầu loại sản phẩm BĐS đó trên thị trường. Do vậy, thời gian đầu tư xây dựng càng dài thì những rủi ro cho những dự án này càng cao Thị trường BĐS là một dạng thị trường không hoàn hảo với luồng thông tin về BĐS không đầy đủ, khó xác thực vì vậy mặc dù đây là một thị trường đầy hấp dẫn nhưng cũng tiềm ẩn rất nhiều rủi ro do chịu ảnh hưởng của các yếu tố: Đầu cơ, tăng giá ảo, mất cân đối cung cầu.
Các dự án đầu tư BĐS chịu tác động bởi sự không hoàn hảo của thị trường này. Các dự án đầu tư BĐS chịu ảnh hưởng trực tiếp bởi các yếu tố tự nhiên, kinh tế và thị trường: Yếu tố tự nhiên như vị trí, diện tích của BĐS, địa hình và hình thức bên ngoài của BĐS quyết định giá trị của BĐS. Do BĐS không di chuyển được, nên vị trí của BĐS ở đâu, xa hay gần trung tâm, môi tường xung quanh như thế nào, diện tích ra sao… là những nhân tố có tác động trực tiếp đến gái trị của BĐS Yếu tố kinh tế: Khả năng mang lại thu nhập từ dự án BĐS càng cao thì giá trị của BĐS càng cao Yếu tố thị trường (cung – cầu về BĐS trên thị trường): Diễn biến cung cầu về BĐS trong từng giai đoạn có thể đẩy giá BĐS lên cao hoặc xuống thấp. Yếu tố này có thể làm cho giá trị BĐS tăng giảm bất ngờ, lên cao hơn hoặc thấp hơn so với giá trị thực của nó.
Vì vậy, sản phẩm của các dự án BĐS được tung ra vào những thời điểm và hoàn cảnh khác nhau sẽ có giá trị khác nhau, mang lại lợi nhuận khác nhau 7 Các dự án đầu tư BĐS chịu sự chi phối của pháp luật và các chính sách liên quan đến BĐS. Do BĐS là tài sản lớn của mỗi quốc gia, là loại hàng hóa đặc biệt , các giao dịch BĐS tác động đến hầu hết các hoạt động kinh tế - xã hội. Vì vậy, các vấn đề về BĐS đều chịu sự chi phối và điều chỉnh chặt chẽ của hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật riêng về BĐS, ngoài ra các đường lối chính sách của Nhà nước có liên quan cũng là nhân tố tác động mạnh đến các dự án BĐS. Nguồn vốn dự án đầu tư BĐS thường được hình thành từ các nguồn sau:vốn khấu hao cơ bản của doanh nghiệp; quỹ tích lũy tái đầu tư phát triển sản xuất; nguồn vốn huy động từ khách hàng mua BĐS; nguồn vốn Ngân sách Nhà nước; vốn viện trợ qua Ngân sách; vốn vay; nguồn khác: Phát hành tái phiếu, vốn góp liên doanh liên kết, vốn cổ phần,… Trong bài luận văn này, tác giả hướng đến nguồn vốn vay từ Ngân hàng đối với các dự án đầu tư BĐS.
Đứng trên góc độ Ngân hàng cho doanh nghiệp vay vốn đầu tư dự án BĐS, Công tác thẩm định dự án đầu tư BĐS được đánh giá có vai trò quyết định đối với hiệu quả cho vay của Ngân hàng.4 Vai trò dự án đầu tư Bất động sản Đầu tư là một quá trình hết sức phức tạp, có liên quan, ảnh hưởng đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống, kinh tế và xã hội. Để có thể sử dụng tối đa các nguồn lực một cách hiệu quả nhằm đạt được mục tiêu của quá trình đầu tư, các chủ đầu tư, các nhà tài trợ và các cơ quản lí Nhà nước cần phải soạn thảo DAĐT. Vai trò của dự án đầu tư BĐS là rất quan trọng, thể hiện cụ thể như sau: Đối với chủ đầu tư: Dự án luôn là căn cứ quan trọng để quyết định đầu tư, xây dựng kế hoạch đầu tư và theo dõi quá trình thực hiện đầu tư. Đối với nhà tài trợ (các NHTM): DAĐT là căn cứ quan trọng để các tổ chức này xem xét tính khả thi của dự án, từ đó sẽ đưa ra quyết định có nên tài trợ dự án này hay không, và nếu có thì nên tài trợ ở mức độ nào để có thể hạn chế rủi ro đến mức thấp nhất cho nhà tài trợ.
Đối với các cơ quan quản lí Nhà nước: DAĐT là tài liệu quan trọng để các cấp có thẩm quyền xét duyệt, cấp giấy phép đầu tư, đồng thời dự án còn là căn cứ pháp lí quan trọng để tòa án giải quyết khi xảy ra tranh chấp giữa các bên trong quá 8 trình thực hiện dự án.2 Thẩm định dự án đầu tƣ Bất động sản trong hoạt động cho vay của Ngân hàng thƣơng mại Thẩm định dự án đầu tư BĐS là việc phân tích, đánh giá, xem xét một cách khách quan, có khoa học và toàn diện các nội dung cơ bản ảnh hưởng trực tiếp tới tính khả thi của dự án BĐS để từ đó ra các quyết định đầu tư, cho phép đầu tư hay ra các quyết định tài trợ [1, tr.