Tổng quan nghiên cứu
Theo báo cáo giám sát của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, tỷ lệ dân số tham gia bảo hiểm y tế tại Việt Nam giai đoạn 2009–2012 đã tăng từ 58,2% lên 66,8%, và đạt 70,8% vào cuối năm 2014. Dù vậy, kết quả này vẫn chưa đạt chỉ tiêu kế hoạch 73% đề ra. Thực trạng phân hóa rõ nét khi nhóm tham gia bắt buộc đạt tỷ lệ bao phủ xấp xỉ 100% trong khu vực công và 54,7% ở khối doanh nghiệp, trong khi nhóm tự nguyện tham gia chỉ đạt mức rất khiêm tốn từ 21% đến 28%. Đáng chú ý, người thuộc diện cận nghèo dù được ngân sách nhà nước hỗ trợ 70% mức phí đóng nhưng tỷ lệ tham gia vào năm 2012 cũng chỉ đạt khoảng 25%, thậm chí nhiều địa phương như Bình Phước chỉ đạt 0,1% và Bình Thuận đạt 2%.
Vấn đề đặt ra là nhóm dân số tự đóng bảo hiểm chiếm tới 44% cơ cấu dân số cả nước, đóng vai trò then chốt trong lộ trình tiến tới bảo hiểm y tế toàn dân. Mục tiêu nghiên cứu của luận văn là đo lường thái độ đối với rủi ro của các hộ gia đình và kiểm định thực nghiệm tác động của yếu tố này cùng các đặc điểm kinh tế - xã hội đến quyết định tham gia bảo hiểm y tế tự nguyện. Phạm vi nghiên cứu được triển khai trên không gian 12 tỉnh thành đại diện cho các vùng sinh thái kinh tế của Việt Nam bao gồm Lào Cai, Lai Châu, Phú Thọ, Điện Biên, Hà Tây, Nghệ An, Khánh Hòa, Đắk Lắk, Đắk Nông, Lâm Đồng, Quảng Nam và Long An. Kết quả nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, cung cấp luận cứ khoa học để hoàn thiện chính sách, hướng đến mục tiêu đạt tỷ lệ bao phủ trên 80% dân số theo Quyết định 538/QĐ-TTG và Nghị quyết 68/NQ-QH.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Luận văn xây dựng nền tảng phân tích dựa trên hai trụ cột lý thuyết kinh tế học hành vi:
- Lý thuyết Hữu dụng kỳ vọng (Expected Utility Theory): Khởi nguồn từ Bernoulli năm 1738 và được phát triển bởi von Neumann và Morgenstern năm 1944. Lý thuyết chỉ ra rằng cá nhân sợ rủi ro có hàm hữu dụng dạng lõm với hữu dụng biên giảm dần, luôn sẵn sàng chi trả một khoản phí cố định để tránh tổn thất thu nhập khi xảy ra biến cố sức khỏe bất ngờ.
- Lý thuyết Triển vọng (Prospect Theory): Phát triển bởi Kahneman và Tversky năm 1979 và hiệu chỉnh năm 1992. Lý thuyết mô tả hàm giá trị dạng chữ S phi đối xứng qua điểm tham chiếu, chứng minh tâm lý con người nhạy cảm với tổn thất hơn là lợi ích cùng quy mô, đồng thời thường đánh giá quá mức các sự kiện có xác suất nhỏ.
Mô hình nghiên cứu xem xét quyết định mua bảo hiểm y tế của hộ gia đình là hàm số phụ thuộc vào hệ số e sợ rủi ro (Risk) và tập hợp các biến kiểm soát gồm giới tính, độ tuổi, học vấn, tình trạng sức khỏe của chủ hộ, thu nhập bình quân và quy mô hộ gia đình. Luận văn cũng vận dụng các khái niệm kinh tế y tế chuyên sâu như sự lựa chọn ngược (adverse selection), rủi ro đạo đức và chia sẻ rủi ro cộng đồng.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp dạng dữ liệu chéo từ Điều tra tiếp cận nguồn lực hộ gia đình nông thôn Việt Nam năm 2012 (VARHS 2012). Tổng mẫu khảo sát ban đầu gồm 3.704 hộ gia đình. Tác giả đã tiến hành quy trình sàng lọc chặt chẽ: loại bỏ 72 quan sát khuyết dữ liệu, loại bỏ 1.471 hộ có thành viên thuộc diện bắt buộc hoặc được cấp thẻ miễn phí (trẻ em dưới 6 tuổi, người nghèo), và loại bỏ 338 hộ có người trả lời khảo sát không phải là chủ hộ. Mẫu nghiên cứu cuối cùng đưa vào ước lượng kinh tế lượng gồm 1.823 hộ gia đình tham gia bảo hiểm y tế theo hình thức tự nguyện.
Về phương pháp phân tích, tác giả lựa chọn mô hình hồi quy Logit nhị phân (Binary Logit Model) thay thế cho mô hình xác suất tuyến tính (LPM). Lý do là biến phụ thuộc mang tính định danh nhận giá trị 0 hoặc 1, mô hình Logit giúp đảm bảo xác suất dự báo luôn nằm trong khoảng từ 0 đến 1 và giải quyết triệt để hiện tượng phương sai sai số thay đổi. Thái độ đối với rủi ro được đo lường thực nghiệm thông qua thiết kế trò chơi đánh cược với tỷ lệ thắng thua 50:50, từ đó tính toán 4 biến hệ số rủi ro (risk1, risk2, risk3, risk4) dựa trên các bộ tham số chuẩn của Abdellaoui năm 2000 và Booij cùng Kuilen năm 2009 (với hệ số alpha = 0,95 và beta = 0,92).
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Mô hình hồi quy Logit mang lại các kết quả có ý nghĩa thống kê cao trên mẫu khảo sát 1.823 hộ gia đình:
- Yếu tố thái độ đối với rủi ro: Hệ số e sợ rủi ro tác động cùng chiều có ý nghĩa thống kê ở mức 1% đến quyết định mua bảo hiểm y tế tự nguyện xuyên suốt cả 4 mô hình ước lượng. Kết quả ước lượng tác động biên chỉ ra rằng khi mức độ e sợ rủi ro của chủ hộ tăng thêm 1 đơn vị, xác suất hộ gia đình quyết định mua bảo hiểm y tế tăng từ 3,2% đến 5,8%. Chủ hộ thuộc nhóm e ngại rủi ro cao có tỷ lệ tham gia bảo hiểm đạt trên 42%, vượt trội so với mức dưới 15% ở nhóm yêu thích rủi ro.
- Tình trạng sức khỏe và lựa chọn ngược: Số ngày ốm không thể hoạt động bình thường trong 12 tháng của chủ hộ có tương quan dương ở mức ý nghĩa 1%. Trung bình số ngày ốm tăng thêm 10 ngày làm tăng xác suất mua thẻ bảo hiểm y tế lên 1,8%, xác nhận sự tồn tại rõ nét của hiện tượng lựa chọn ngược tại thị trường nông thôn.
- Thu nhập và trình độ học vấn: Thu nhập bình quân đầu người tác động tích cực ở mức ý nghĩa 1%, khi thu nhập hộ tăng 10% thì xác suất tham gia bảo hiểm tăng thêm 1,5%. Đồng thời, số năm đi học của chủ hộ tăng thêm 1 năm giúp xác suất mua bảo hiểm tăng tương ứng 2,1%.
- Giới tính và quy mô hộ: Các hộ gia đình có chủ hộ là nữ giới có xác suất mua bảo hiểm cao hơn chủ hộ là nam giới khoảng 4,5%. Quy mô nhân khẩu trong hộ gia đình cũng ghi nhận tác động dương với mức tăng xác suất 1,2% cho mỗi thành viên tăng thêm.
Thảo luận kết quả
Kết quả ước lượng phản ánh đúng quy luật tâm lý hành vi: những chủ hộ có mức độ ngại rủi ro cao luôn mong muốn trích một phần ngân sách hiện tại để phòng ngừa các cú sốc tài chính y tế lớn trong tương lai. Phát hiện này hoàn toàn tương đồng với các công trình quốc tế của Finkelstein và cộng sự năm 2006, Condliffe và Fiorentino năm 2014 tại Mỹ, đồng thời mở rộng các nghiên cứu tại Việt Nam của Ha và Leung năm 2010 hay Nguyễn Văn Ngãi và Nguyễn Thị Cẩm Hồng năm 2012.
Dữ liệu nghiên cứu thực nghiệm có thể được tổng hợp trực quan qua biểu đồ phân bố tần suất mức độ e sợ rủi ro và bảng so sánh tác động biên giữa các nhóm nhân khẩu học. Việc nhóm có sức khỏe yếu tham gia bảo hiểm nhiều hơn phản ánh gánh nặng chi phí y tế tự chi trả thực tế vẫn rất lớn, khiến những người có nguy cơ ốm đau cao chủ động tìm kiếm sự bảo vệ tài chính từ quỹ an sinh xã hội.
Đề xuất và khuyến nghị
Dựa trên các phát hiện thực nghiệm, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược nhằm thúc đẩy diện bao phủ bảo hiểm y tế tự nguyện:
- Đổi mới nội dung truyền thông theo hướng tác động tâm lý rủi ro: Bảo hiểm Xã hội Việt Nam và Bộ Y tế cần thiết kế các chiến dịch truyền thông nhấn mạnh rủi ro tài chính khi ốm đau đột ngột thay vì chỉ tuyên truyền nghĩa vụ đóng góp chung chung. Mục tiêu nâng tỷ lệ nhận thức đúng về an toàn tài chính y tế tại khu vực nông thôn từ mức dưới 40% hiện nay lên 85% trong giai đoạn 2016–2018.
- Tăng cường mức trợ cấp phí đóng cho nhóm cận nghèo và nông dân: Bộ Tài chính phối hợp Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội nâng mức hỗ trợ đóng bảo hiểm y tế cho hộ cận nghèo từ 70% lên mức 85%–90%, đồng thời triển khai gói hỗ trợ 30%–50% mức đóng cho hộ nông - lâm - ngư nghiệp có mức sống trung bình. Mục tiêu nâng tỷ lệ bao phủ của nhóm cận nghèo từ 25% năm 2012 lên tối thiểu 70% trước năm 2018.
- Nâng cao chất lượng khám chữa bệnh tuyến y tế cơ sở: Sở Y tế các địa phương và bệnh viện tuyến huyện cần đầu tư trang thiết bị, cải cách thủ tục hành chính để cắt giảm 50% thời gian chờ đợi khám chữa bệnh, kiểm soát chi phí ngoài danh mục xuống dưới 25% tổng chi phí điều trị nhằm củng cố niềm tin của người dân vào chính sách bảo hiểm trước năm 2019.
- Phát triển các gói bảo hiểm y tế bổ sung linh hoạt: Bộ Y tế định hướng các tổ chức bảo hiểm xây dựng thêm các gói bảo hiểm sức khỏe tự nguyện bổ sung với mức phí phân tầng, hướng đến phục vụ các nhóm có mức độ e ngại rủi ro và khả năng chi trả khác nhau, hoàn thành mục tiêu bao phủ trên 80% dân số vào năm 2020.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Công trình nghiên cứu cung cấp cơ sở dữ liệu và phương pháp luận giá trị cao cho 4 nhóm đối tượng chính:
- Cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách an sinh xã hội: Bộ Y tế, Bảo hiểm Xã hội Việt Nam và Ủy ban Về các vấn đề xã hội của Quốc hội sử dụng luận văn làm tài liệu tham khảo để xây dựng lộ trình bảo hiểm y tế toàn dân và điều chỉnh mức đóng hỗ trợ từ ngân sách.
- Giảng viên, nghiên cứu viên và học viên cao học: Các nhà nghiên cứu chuyên ngành Kinh tế phát triển, Kinh tế y tế và Kinh tế học hành vi khai thác khung phân tích lý thuyết triển vọng và phương pháp đo lường hệ số ác cảm rủi ro qua thí nghiệm kinh tế học.
- Đơn vị quản lý bệnh viện và các tổ chức bảo hiểm thương mại: Sử dụng các phân tích về hành vi tiêu dùng y tế, sự lựa chọn ngược và tâm lý e ngại rủi ro để tối ưu hóa quy trình tiếp nhận khám chữa bệnh và phát triển sản phẩm bảo hiểm sức khỏe phù hợp.
- Tổ chức phi chính phủ và các hiệp hội phát triển nông thôn: Tham khảo bằng chứng thực nghiệm từ 12 tỉnh thành để thiết kế các dự án can thiệp an sinh xã hội và tài chính vi mô hỗ trợ người dân vùng khó khăn.
Câu hỏi thường gặp
-
Thái độ đối với rủi ro được đo lường bằng công cụ nào trong nghiên cứu? Thái độ đối với rủi ro được lượng hóa qua thí nghiệm trò chơi lựa chọn rủi ro 50:50 với 6 mức cược có giá trị tổn thất tăng dần từ 2.000 đồng đến 7.000 đồng và giá trị thắng cố định 6.000 đồng trong bộ dữ liệu VARHS 2012, từ đó xác định 4 hệ số lo ngại rủi ro theo Lý thuyết triển vọng.
-
Tại sao mô hình Logit lại tối ưu hơn mô hình xác suất tuyến tính trong đề tài này? Biến phụ thuộc quyết định mua bảo hiểm y tế là biến nhị phân mang giá trị 0 hoặc 1. Mô hình xác suất tuyến tính thường gặp lỗi phương sai sai số thay đổi và ước lượng xác suất có thể vượt quá khoảng 0 đến 1, trong khi mô hình Logit đảm bảo tính nhất quán toán học và ước lượng chính xác tác động biên.
-
Hiện tượng lựa chọn ngược trong nghiên cứu này được kiểm chứng qua biến số nào? Hiện tượng lựa chọn ngược được chứng minh qua biến số ngày ốm trong 12 tháng của chủ hộ mang dấu dương có ý nghĩa thống kê 1%. Khi số ngày ốm tăng thêm 10 ngày, xác suất mua bảo hiểm tăng 1,8%, cho thấy người có rủi ro sức khỏe cao chủ động tham gia bảo hiểm nhiều hơn người khỏe mạnh.
-
Yếu tố học vấn và thu nhập ảnh hưởng ra sao đến quyết định mua bảo hiểm y tế? Học vấn và thu nhập đều tác động tích cực ở mức ý nghĩa 1%. Chủ hộ có thêm 1 năm đi học làm tăng xác suất mua bảo hiểm thêm 2,1%, và khi thu nhập bình quân đầu người tăng 10% thì xác suất tham gia tăng thêm 1,5% nhờ khả năng chi trả và nhận thức phòng ngừa rủi ro tốt hơn.
-
Đề án của Chính phủ đặt mục tiêu bao phủ bảo hiểm y tế giai đoạn 2015–2020 như thế nào? Theo Quyết định 538/QĐ-TTG và Nghị quyết 68/NQ-QH, mục tiêu quốc gia đặt ra là duy trì tỷ lệ tham gia 100% ở các nhóm bắt buộc, mở rộng diện bao phủ toàn dân đạt trên 70% đến 75% dân số vào năm 2015 và tiến tới đạt trên 80% dân số có bảo hiểm y tế vào năm 2020.
Kết luận
- Luận văn đã chứng minh thực nghiệm thái độ e sợ rủi ro có tác động cùng chiều mạnh mẽ với mức ý nghĩa 1% đến quyết định mua bảo hiểm y tế tự nguyện của hộ gia đình nông thôn.
- Nghiên cứu xác nhận các yếu tố nhân khẩu học và kinh tế xã hội gồm học vấn, thu nhập bình quân, giới tính nữ của chủ hộ và quy mô hộ gia đình đều làm gia tăng đáng kể xác suất tham gia bảo hiểm y tế.
- Bằng chứng thực nghiệm từ 1.823 hộ gia đình trên 12 tỉnh thành làm sáng tỏ hiện tượng lựa chọn ngược khi người có nhiều ngày ốm đau có xu hướng mua bảo hiểm cao hơn.
- Đóng góp khoa học then chốt là việc tiên phong ứng dụng Lý thuyết triển vọng và kinh tế học thực nghiệm để định lượng chính xác hệ số rủi ro trong phân tích kinh tế y tế tại Việt Nam.
- Hệ thống khuyến nghị đưa ra giải pháp toàn diện từ truyền thông tâm lý hành vi, tăng trợ cấp đóng phí đến cải thiện chất lượng y tế cơ sở nhằm hoàn thành lộ trình bảo hiểm y tế toàn dân giai đoạn 2015–2020.
Quý độc giả, các nhà nghiên cứu và cơ quan quản lý quan tâm có thể khai thác chi tiết bộ mô hình kinh tế lượng, bảng ma trận tương quan và dữ liệu thực nghiệm trong toàn văn luận văn thạc sĩ để ứng dụng vào công tác hoạch định chính sách an sinh xã hội.