CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VIỆC LÀM VÀ TẠO VIỆC LÀM 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ VIỆC LÀM VÀ TẠO VIỆC LÀM 1. Khái niệm thất nghiệp và việc làm a. Thất nghiệp Thất nghiệp là một biểu hiện kinh tế xã hội khi mà con người có khả năng làm việc, muốn làm việc mà không thể tìm được việc làm.
Đó là hiện tượng tồn tại khi một số người trong độ tuổi lao động mong muốn và có khả năng làm việc, rất tích cực tìm kiếm nhưng không tìm được việc làm vì lý do không có chỗ làm việc hoặc trình độ chuyên môn không phù hợp. Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) cho rằng, thất nghiệp là tình trạng tồn tại khi một số người trong lực lượng lao động muốn làm việc nhưng không thể tìm được việc làm ở mức tiền công thịnh hành. Và để xác định rõ những người thất nghiệp, tổ chức này đưa ra những tiêu chí cụ thể. Họ cho rằng, xét trong một khoảng thời gian nhất định, những người thất nghiệp là những người đang ở trong các tình trạng sau: 1) không có việc làm; 2) có khả năng làm việc; 3) tích cực tìm việc làm.
Theo quan điểm này thì thất nghiệp là tình trạng người lao động có nguyện vọng tìm việc làm nhưng đang ở vị trí không có việc làm. Phần lớn các nước trên thế giới sử dụng quan niệm của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) để xác định người thất nghiệp, nhưng mỗi nước xác định khoảng thời gian thất nghiệp có khác nhau. Ở Úc cho rằng: người thất nghiệp là những người không có việc làm trong tuần lễ điều tra và đã chủ động tìm việc làm cả ngày hoặc nửa ngày tại bất kỳ thời điểm nào trong 4 tuần, bao gồm cả tuần điều tra và sẵn sàng làm việc khi có việc làm; ở Thái Lan quy định, trong các cuộc điều tra xác định người thất nghiệp là những người không có việc làm 7 trong 7 ngày trước lúc điều tra… Việc phân loại thất nghiệp là một yếu tố quan trọng để xác định tính chất thất nghiệp, nhằm làm cơ sở cho việc hoạch định các chính sách chống thất nghiệp. Tổ chức ILO cũng đã phân thất nghiệp thành 3 loại: thất nghiệp do mức cầu lao động không đủ; thất nghiệp do thiếu thiết bị hoặc thiếu những nguồn lực bổ sung; thất nghiệp do cung và cầu lao động không ăn khớp với nhau.
Sự phân loại này đến nay cho thấy, xét trên nhiều khía cạnh, mặc dù đúng nhưng không chính xác hoàn toàn, nhất là đối với những quốc gia đang trong quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế như nước ta. Cũng theo ILO thì “Người thất nghiệp là những người có thể và muốn làm việc, chủ động và tích cực đi tìm kiếm việc làm, nhưng không thể tổ chức được lao động vì không có chỗ làm việc trống hoặc là vì nghề nghiệp không phù hợp”. Bộ luật Lao động sửa đổi và bổ sung của Việt Nam năm 2002 quy định: “Thất nghiệp là những người trong độ tuổi lao động muốn làm việc nhưng chưa tìm được việc làm”. Nhìn chung, trên cơ sở quan điểm của Tổ chức ILO, mỗi nước có một quan niệm khác nhau về người thất nghiệp phù hợp với điều kiện của quốc gia mình.
Song, để quan niệm người thất nghiệp phù hợp với điều kiện thức tế của Việt Nam hiện nay, tác giả đồng ý với quan điểm “người thất nghiệp là những người lao động trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động, đang ở trong tình trạng không có việc làm và đang đi tìm việc làm, đồng thời sẵn sàng đi làm ngay nếu được chấp nhận”. Với quan điểm này, người thất nghiệp có thể là học sinh, sinh viên tốt nghiệp các trường chuyên nghiệp, công nhân trong các doanh nghiệp, bộ đội xuất ngũ nhưng chưa có việc làm. Những người trong độ tuổi lao động Các định nghĩa tuy có khác nhau về mức độ, giới hạn (tuổi, thời gian 8 mất việc) nhưng đều thống nhất người thất nghiệp ít nhất phải có 3 đặc trưng: có khả năng lao động, đang không có việc làm, đang đi tìm việc làm. Có 3 nguyên nhân gây thất nghiệp là: do chu kỳ sản xuất kinh doanh thay đổi, do sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật và do sự gia tăng dân số và nguồn nhân lực là áp lực đối với việc giải quyết việc làm.
Việc làm Theo Tổ chức Lao động Quốc tế thì khái niệm việc làm chỉ đề cập đến trong mối quan hệ với lực lượng lao động. Khi đó, việc làm được phân thành hai loại: có trả công (những người làm thuê, học việc…) và không được trả công nhưng vẫn có thu nhập (những người như giới chủ làm kinh tế gia đình…). Vì vậy, “việc làm có thể được định nghĩa như một tình trạng trong đó có sự trả công bằng tiền hoặc hiện vật, do có một sự tham gia tích cực, có tính chất cá nhân và trực tiếp vào nỗ lực sản xuất” [5]. Theo khái niệm này, người có việc làm là người làm việc gì đó để được trả công, lợi nhuận được thanh toán bằng tiền hoặc hiện vật, hoặc tham gia vào các hoạt động mang tính chất tự tạo việc làm vì lợi ích hay vì thu nhập của gia đình (không được nhận tiền công hay hiện vật).
Với quan niệm này, có rất nhiều người thuộc diện có việc làm, bao gồm: những hoạt động mang tính hợp pháp và những hoạt động mang tính chất phi pháp hoặc bị cho là vi phạm đạo đức xã hội và bị ngăn cấm ở một số nước. Như vậy, khái niệm này chỉ mang tính chất khái quát, là cơ sở nghiên cứu vấn đề chung cho các nước trên thế giới. Quan niệm về việc làm đã được cụ thể hoá tại Điều 19, chương II của Bộ luật Lao động (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2012) quy định “Việc làm là hoạt động lao động tạo ra thu nhập mà không bị pháp luật cấm”. Quan niệm này có thể hiểu dưới ba hoạt động sau: - Làm các công việc để nhận tiền công, tiền lương bằng tiền mặt hoặc hiện vật.
- Làm các công việc để thu lợi nhuận cho bản thân. 9 - Làm các công việc cho hộ gia đình mình nhưng không được trả thù lao dưới hình thức tiền lương, tiền công cho công việc đó. Theo quan niệm trên, một hoạt động được coi là việc làm cần thoả mãn hai tiêu thức: Một là, hoạt động đó phải có ích và tạo ra thu nhập cho người lao động và cho các thành viên trong gia đình. Điều này chỉ rõ tính hữu ích và nhấn mạnh tiêu thức tạo ra thu nhập của việc làm.
Hai là, hoạt động không bị pháp luật cấm. Điều này chỉ rõ tính pháp lý của việc làm, quan niệm đã rõ ràng hơn so với quan niệm của tổ chức ILO. Hoạt động có ích không giới hạn về phạm vi, ngành nghề và hoàn toàn phù hợp với sự phát triển của thị trường lao động Việt Nam trong quá trình phát triển nền kinh tế nhiều thành phần. Người lao động hợp pháp ngày nay được đặt vào vị trí chủ thể, có quyền tự do hành nghề, tự do liên kết kinh doanh, tự do tìm kiếm việc làm, tự do thuê mướn lao động trong khuôn khổ của pháp luật, không bị phân biệt đối xử dù làm việc trong hay ngoài khu vực Nhà nước.
Điều này khẳng định tính chất pháp lý trong hoạt động của người lao động thuộc khu vực ngoài Nhà nước và các khu vực phí chính phủ. Hai điều kiện này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, là điều kiện cần và đủ để một hoạt động lao động được thừa nhận là việc làm. Nếu một hoạt động tạo ra thu nhập, nhưng vi phạm pháp luật như trộm cắp, buôn bán ma tuý…thì không được thừa nhận là việc làm. Mặt khác, một hoạt động là hợp pháp và có ích, nhưng không tạo ra thu nhập cũng không được thừa nhận là việc làm.
Quan niệm về việc làm nêu trên đã mang tính khái quát cao, tuy nhiên vẫn còn một số hạn chế, cụ thể là: Thứ nhất, xét trên phạm vi rộng thì tính hợp pháp của một hoạt động lao động được thừa nhận là việc làm tuỳ theo luật pháp của mỗi quốc gia và mỗi thời kỳ. Có hoạt động là việc làm ở nước này nhưng lại không được thừa 10 nhận là việc làm ở nơi khác. Thứ hai, không phải mọi hoạt động có ích và cần thiết cho gia đình và xã hội đều tạo ra thu nhập mặc dù nó góp phần làm giảm chi tiêu cho gia đình thay vì thuê người làm công. Theo giáo trình Kinh tế Lao động của Khoa Kinh tế Lao động và Dân số - Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội, khái niệm việc làm được hiểu “là phạm trù để chỉ trạng thái phù hợp giữa sức lao động và những điều kiện cần thiết (vốn, tư liệu sản xuất, công nghệ…) để sử dụng sức lao động đó.
Trạng thái phù hợp được thể hiện thông qua quan hệ tỷ lệ giữa chi phí ban đầu (C) như nhà xưởng, máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu…và chi phí về sức lao động (V). Quan hệ tỷ lệ biểu diễn sự kết hợp giữa sức lao động với trình độ công nghệ sản xuất. Khi công nghệ thay đổi thì sự kết hợp đó cũng thay đổi theo, có thể công nghệ sử dụng nhiều vốn hoặc công nghệ sử dụng nhiều sức lao động. Còn trong điều kiện tự động hoá, sản xuất theo dây chuyền hiện đại thì chi phí về vốn, thiết bị, công nghệ rất cao, nhưng chỉ đòi hỏi sức lao động với tỉ và lệ thấp.
Do đó, tuỳ từng điều kiện cụ thể mà lựa chọn phương án phù hợp để có thể tạo việc làm cho người lao động. Trong điều kiện của tiến bộ khoa học kỹ thuật và sự áp dụng các thành tựu của khoa học công nghệ vào sản xuất mạnh mẽ như hiện nay, quan hệ tỉ lệ giữa V và C thường xuyên có sự biến đổi. - Sự phù hợp giữa sức lao động và chi phí ban đầu có nghĩa là mọi người có khả năng lao động, có nhu cầu làm việc đều có việc làm. Nếu chỉ xem xét trên phương diện sử dụng hết thời gian lao động có nghĩa là việc làm đầy đủ.
Trong trường hợp sự phù hợp của mối quan hệ này cho phép sử dụng tối đa tiềm năng về tư liệu sản xuất, vốn và sức lao động ta có khái niệm việc làm hợp lý. - Sự không phù hợp giữa sức lao động và chi phí ban đầu sẽ dẫn đến 11 thiếu nguồn nhân lực tức thiếu việc làm và thất nghiệp. Theo khái niệm được đưa ra trong từ điển tiếng Việt thì “Việc làm là công việc được giao cho làm và được trả công”.