PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Trên thế giới nói chung cũng nhƣ ở Viê ̣t Nam nói riêng , di cƣ đã trở thành vấ n đề của phát triể n và là kế t quả của sƣ̣ phát triể n. Trong đó di cƣ n ội địa ở nƣớc ta đang có chiều hƣớng tăng lên và đã trở thành một giải pháp để giải quyết thất nghiệp và phân phối lao động (Nguyễn Thanh Liêm, 2006). Sự chênh lệch giàu nghèo giữa thành thị và nông thôn và tình trạng thất nghiệp mùa vụ ở nông thôn là nguyên nhân cơ bản dẫn đến sự di dân nhƣ một chiến lƣợc kinh tế của ngƣời nông dân.
Đô thị trở thành “cái túi” chứa lao động nông thôn với sức ép gia tăng ngày càng lớn về việc làm, y tế, giáo dục, ổn định xã hội,… (Bùi Quang Dũng, 2009). Các dòng di cƣ không chỉ góp phần tăng phúc lợi và an sinh cho ngƣời di cƣ thông qua việc tạo thu nhập cao và đa dạng hóa sinh kế mà còn là động lực thúc đẩy lại,là kết quả của sự phát triển kinh tế xã hội cả ở nơi xuất cƣ và nơi nhập cƣ. Ở nơi xuất cƣ, tác động dễ nhận thấy nhất là thông qua các khoản tiền gửi về của ngƣời di cƣ. Đối với nơi nhập cƣ, di cƣ giúp đáp ứng nhu cầu lao động,thúc đẩy các hoạt động thƣơng mại kinh tế và dịch vụ phát triển (Lê Bạch Dƣơng và Nguyễn Thanh Liêm, 2011).
Tuy nhiên trong sự vận động ấy lại ẩn chứa những rủi ro và tồn tại trong mọi mặt của đời sống những ngƣời lao động di cƣ. Các nghiên cứu di dân chỉ ra, tỷ lệ thất nghiệp của ngƣời di cƣ cao gấp 5 lần so với tỷ lệ thất nghiệp của ngƣời lao động 15 tuổi trở lên. Theo báo cáo Oxfarm (2015) một bộ phận đáng kể trong số những ngƣời lao động di cƣ có công việc thiếu ổn định, bấp bênh, đặc biệt là trong khu vực phi chính thức. Bản thân cuộc sống của đa số ngƣời lao động khu vực phi chính thức nhập cƣ vào đô thị cũng rất vất vả, bấp bênh, thiếu thốn cả về vật chất và tinh thần, môi trƣờng sống bị ô nhiễm nghiêm trọng và chất lƣợng cuộc sống không đƣợc đảm bảo.
Đô thị hóa và di cƣ nông thôn – thành thị làm gia tăng dân số thành thị, đồng thời góp phần cấu thành một nhóm đối tƣợng dễ bị tổn thƣơng mới, ngoài nhóm ngƣời nghèo có xuất thân từ đô thị, đó là nhóm ngƣời nghèo nhập cƣ, chiếm khoảng 1/3 tổng số ngƣời nghèo đô thị theo ƣớc tính của ngân hàng Thế giới (Nguyễn Hữu Minh và Nguyễn Xuân Mai, 2004). Do vậy, tạo dựng việc làm cho 1 z nhóm ngƣời lao động nhập cƣ đã trở thành chƣơng trình mục tiêu quốc gia ở nhiều nƣớc trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Nhà nƣớc ta đã thành lập Quỹ Quốc gia hỗ trợ và giải quyết việc làm, cho vay trực tiếp với các dự án có mục tiêu để thu hút, tạo dựng việc làm cho ngƣời lao động. Tuy nhiên, vấn đề việc làm hiện nay đang đứng trƣớc các mâu thuẫn: mâu thuẫn giữa nhu cầu việc làm ngày càng lớn với khả năng giải quyết việc làm còn hạn chế; giữa nhu cầu giải quyết việc làm với trình độ tổ chức quản lý, trình độ kỹ năng của ngƣời lao động chƣa theo kịp yêu cầu của quá trình đô thị hóa hiện nay.
Hà Nội không chỉ là một đô thị lớn mà còn là trung tâm kinh tế - chính trị - văn hóa của cả nƣớc. Quy mô và tốc độ của lƣợng ngƣời di dân vào Hà Nội qua các năm ngày càng tăng:Năm 2001, số ngƣời di cƣ vào Hà Nội là 16.985 ngƣời thì đến năm 2007 là 46.240 ngƣời, năm 2009 là 48.620 ngƣời tăng lên 52.588 ngƣời vào năm 2010(Đinh Văn Thông, 2010), và vào thời điểm 6/2012 do Công an thành phố Hà Nội thống kê thì số ngƣời di dân vào Hà Nội lên tới khoảng 100. Nhƣ vậy, xu thế chung của những năm tới là số lƣợng ngƣời lao động ngoại tỉnh vào Hà Nội vẫn tiếp tục tăng lên một cách nhanh chóng. Và đồng thời, gia tăng dân số thành thị sẽ làm gia tăng nghèo khổ đô thị (Nguyễn Hữu Minh và Nguyễn Xuân Mai, 2004).
Trên thực tế, một bộ phận không nhỏ ngƣời lao động nông thôn nhập cƣ vào đô thị đang phải sống trong những căn nhà trọ tồi tàn nhất trên địa bàn thành phố, chịu nhiều bất công về công việc, không đƣợc hƣởng các dịch vụ chăm sóc sức khỏe và an sinh xã hội (BHYT, BHXH,…). Phƣờng Phúc Xá, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội có những xóm trọ đƣợc hình thành không phép ngay trên bãi bồi dƣới lòng sông. Sau trận lũ lịch sử năm 1996, thì bãi bồi này ngày một cao hơn và rộng ra. Khoảng năm 2006 – 2007, cống thoát nƣớc của tổ dân cƣ số 7 và số 8 cụm 2 đƣợc chính quyền phƣờng Phúc Xá, quận Ba Đình cải tạo, kè bờ thành đƣờng đi lối lại sạch sẽ.
Từ đó, nhiều hộ dân chuyển đổi đất phi nông nghiệp sang xây dựng nhà trọ, một số ít tự ý lấn chiếm đất công, xây dựng các khu phòng trọ chất lƣợng thấp để kinh doanh trong khi ngƣời lao động nông thôn nghèo di cƣ lên Hà Nội phải chấp nhận sống trong khu trọ mà họ không có cơ hội để lựa chọn. Có thể thấy rằng, 2 z cuộc sống của những ngƣời dân nhập cƣ trong khu nhà tạm chân cầu Long Biên là tiêu biểu cho cuộc sống của ngƣời lao động nông thôn nhập cƣ vào đô thị có nguồn thu nhập, hoàn cảnh sống thấp nhất hiện nay và bất lực trong vấn đề tạo dựng việc làm của bản thân. Trong lĩnh vực học thuật, những nghiên cứu trƣớc về di cƣ lao động nông thôn – thành thị phần nhiều đặt mối quan tâm về nơi đi, những vấn đề nhƣ: nguyên nhân di cƣ, tác động của di cƣ nông thôn – thành thị đối với kinh tế hộ gia đình nông thôn,… Hiện tại, chƣa có nhiều nghiên cứu chỉ ra thực trạng việc làm và tạo dựng việc làm cho ngƣời lao động khu vực phi chính thức nông thôn nhập cƣ vào đô thị và nếu có, thì các nghiên cứu phần lớn mang tầm vóc vĩ mô, trung mô, thiếu đi các nghiên cứu đặc trƣng về một khu vực cụ thể (nhƣ địa bàn của một phƣờng), cũng không có nhiều nghiên cứu tìm hiểu về việc làm của nhóm đối tƣợng đặc thù, dễ chịu tổn thƣơng nhất trong xã hội đô thị. Chính từ thực tế trên, tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu luận văn thạc sĩ: “Tạo dựng việc làm cho người lao động tự do nông thôn nhập cư vào đô thị (Nghiên cứu trường hợp tại khu nhà tạm chân cầu Long Biên, phường Phúc Xá, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội)”với mục tiêu cơ bản là nghiên cứu thực trạng tạo dựng việc làm, những yếu tố ảnh hƣởng tới tạo dựng việc làm cho nhóm lao động nghèo ở nông thôn nhập cƣ vàokhu nhà tạm chân cầu Long Biên, phƣờng Phúc Xã, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội.
Ý nghĩa nghiên cứu 2. Ý nghĩa lý luận Nghiên cứu tập trung làm sáng tỏ một số khái niệm, thuật ngữ về di cƣ, việc làm, tạo dựng việc làm, lao động tự do, khu nhà tạm (khu ổ chuột xóm lều,. Đồng thời, đề tài đƣợc tiến hành thông qua việc kiểm chứng một vài lý thuyết xã hội học tiêu biểu, cụ thể là: Lý thuyết nhu cầu của Maslow, lý thuyết cơ cấu chức năng của Parkson, lý thuyết về mạng lƣới xã hội của Granovetter. Các lý thuyết trên đƣợc vận dụng trong việc lý giải về nguyên nhân di cƣ, sức hút về cơ hội việc làm và thu nhập, mạng lƣới tìm kiếm và tạo dựng việc làm, mong muốn, nhu cầu về việc làm ở nơi cƣ trú tạm thời của ngƣời lao động tự do nông thôn nhập cƣ vào đô thị.
Ý nghĩa thực tiễn Nghiên cứu tập trung làm sáng tỏ bức tranh về thực trạng tạo dựng việc làm, các yếu tố ảnh hƣởng đến tạo dựng việc làm cho ngƣời lao động tự do nông thôn nhập cƣ vào đô thị. Qua đó, đƣa ra một vài kiến nghị giúp cải thiện và ổn định tình hình tạo dựng việc làm cho ngƣời lao động nhập cƣ tự do tại phƣờng Phúc Xá. Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể đƣợc dùng làm tài liệu tham khảo cho các cá nhân, tổ chức quan tâm khi nghiên cứu việc làm của ngƣời lao động tự do nông thôn nhập cƣ vào đô thị. Tổng quan nghiên cứu Việc làm luôn là một trong những vấn đề đƣợc quan tâm của nhiều nhà xã hội học.
Đây không chỉ là vấn đề có liên quan đến cuộc sống của ngƣời lao động mà còn ảnh hƣởng trực tiếp đến quá trình phát triển xã hội. Nó có tính liên hệ, liên kết giữa các quá trình kinh tế, xã hội và nhân khẩu. Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, tôi chỉ xin tập trung giới thiệu một số công trình tiêu biểu liên quan đến di cƣ và di cƣ lao động nông thôn – thành thị, về nhóm ngƣời nghèo nhập cƣ vào đô thị, việc làm và tạo dựng việc làm cho ngƣời lao động, mạng lƣới xã hội của ngƣời lao động. Các nghiên cứu về di cƣ và ngƣời di cƣ lao động nông thôn – thành thị Mỗi một địa điểm, nơi ở gốc và nơi đến đều có những ƣu điểm hạn chế trên nhiều lĩnh vực thu nhập, việc làm, nhà ở và phúc lợi xã hội, giáo dục, chăm sóc sức khỏe, thậm chí là khí hậu.
sẽ đƣợc ngƣời di cƣ cân nhắc. Thông thƣờng, các điều kiện kinh tế khó khăn (không có việc làm, mất đất – mất sinh kế,…) tại nơi ở gốc là yếu tố “đẩy” chủ yếu của việc xuất cƣ trong khi cải thiện điều kiện kinh tế của nơi đến là nhân tố “hút” quan trọng nhất của việc nhập cƣ (Bùi Việt Thành, 2011). Bàn về lực đẩy và lực hút trong di cƣ, Đinh Văn Thông (2010) đã chỉ ra hai nguyên nhân cơ bản, đó là: Nông nghiệp ngày càng phát triển, năng suất lao động và sản lƣợng tăng, dẫn đến tình trạng dƣ thừa lao động; sự khác biệt về tiền lƣơng và thu nhập giữa các vùng nông thôn – thành thị chính là yếu tố thúc đẩy quá trình di dân vào đô thị. Hơn thế, là trung tâm kinh tế - chính trị văn hóa của cả nƣớc, Hà Nội trở thành 4 z lực hút của dòng di cƣ ngoại tỉnh.