phần mở đầu và kết luận, nội dung luận văn gồm 3 chương: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về tạo động lực lao động trong tổ chức Chƣơng 2: Thực trạng tạo động lực lao động tại Trung tâm Truyền hình Thông tấn thuộc Thông tấn xã Việt Nam Chƣơng 3: Giải pháp hoàn thiện tạo động lực lao động tại Trung tâm Truyền hình Thông tấn thuộc Thông tấn xã Việt Nam Luan van 6 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TẠO ĐỘNG LỰC LAO ĐỘNG TRONG TỔ CHỨC 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Nhu cầu Nhu cầu là một hiện tượng tâm lý tự nhiên của con người, là đòi hỏi, mong muốn, nguyện vọng của con người về vật chất và tinh thần để tồn tại và phát triển. Tùy theo trình độ nhận thức, môi trường sống, những đặc điểm tâm sinh lý, mỗi người có những nhu cầu khác nhau.
Tác giả đồng ý với quan điểm Philip Kotler (2009) khi cho rằng: “Nhu cầu cấp thiết của con người là cảm giác thiếu hụt một cái gì đó mà họ cảm nhận được” [23]. Nhu cầu cấp thiết của con người rất đa dạng và phức tạp. Nó bao gồm cả những nhu cầu sinh lý cơ bản về ăn, mặc, sưởi ấm và an toàn tính mạng lẫn những nhu cầu xã hội như sự thân thiết gần gũi, uy tín và tình cảm cũng như các nhu cầu cá nhân về tri thức và tự thể hiện mình. Nhu cầu cấp thiết là những phần cấu thành nguyên thủy của bản tính con người, không phải do xã hội hay người làm marketing tạo ra [20].
Theo tác giả, có thể hiểu: “nhu cầu là một trạng thái tâm lý mà con người cảm thấy thiếu thốn, không thỏa mãn về một cái gì đó và mong muốn được đáp ứng nó”. Nhu cầu chưa được thoả mãn tạo ra một tâm lý căng thẳng đối với con người khiến họ tìm cách để thoả mãn nhu cầu đó và để có thể thoả mãn được những mong muốn này họ phải nỗ lực, mong muốn càng lớn mức nỗ lực càng cao. Nếu những mong muốn này được thoả mãn thì mức độ mong muốn sẽ giảm đi và ngược lại. Nhu cầu của con người rất phong phú và đa dạng, có thể chia nhu cầu thành 2 nhóm chính như sau: + Nhu cầu về vật chất: là những nhu cầu gắn liền với những mong muốn về vật chất, thoả mãn được những nhu cầu tối thiểu để tồn tại và phát Luan van 7 triển của con người.
Cùng với sự phát triển của xã hội các nhu cầu vật chất của con người ngày càng tăng lên cả về số lượng và chất lượng. + Nhu cầu về tinh thần: là những nhu cầu gắn liền với sự hài lòng thỏa mãn về tâm lý. Nhu cầu về tinh thần của con người cũng rất phong phú, nó đòi những điều kiện để con người tồn tại và phát triển về mặt trí lực nhằm tạo ra trạng thái tâm lý thoải mái. Trên thực tế, cả hai yếu tố vật chất và tinh thần cùng lúc tồn tại trong bản thân mỗi người nó không phải chỉ có một yêu cầu vật chất hay tinh thần mà nó có nhiều đòi hỏi khác nhau.
Tuy nhiên tại mỗi thời điểm con người sẽ ưu tiên thực hiện yêu cầu mà được coi là cấp thiết nhất. Động cơ Động cơ được hiểu là sự sẵn sàng, quyết tâm thực hiện với nỗ lực ở mức độ cao để đạt được mục tiêu đã đặt ra, nó giải thích cho hành vi của mỗi người. Thuật ngữ động cơ dùng để chỉ các xu hướng, các ước mơ, nhu cầu nguyện vọng của con người thúc đẩy con người hành động. Theo từ điển tiếng việt: “Động cơ có tác dụng chi phối thúc đẩy người ta suy nghĩ và hành động”.
Động cơ phụ thuộc vào từng người, các cá nhân khác nhau có các động cơ khác nhau và trong các tình huống khác nhau động cơ cũng khác nhau. Có thể nói động cơ là kết quả của sự tương tác giữa các cá nhân và tình huống. Ngoài ra động cơ rất đa dạng, phong phú, phức tạp và luôn biến đổi, biến đổi theo môi trường sống và biến đổi theo thời gian, tại mỗi thời điểm con người thường có những yêu cầu và động cơ làm việc khác nhau. Ví dụ: khi đói khát thì động cơ làm việc để được ăn no mặc ấm, khi có ăn có mặc thì động cơ thúc đẩy làm việc để muốn giàu có và muốn thể hiện.
Động cơ làm việc của mỗi cá nhân thường trừu tượng và khó xác định, cũng có khi là vô cùng. Do vậy để nắm bắt được động cơ thúc đẩy người lao động làm việc phải xét đến từng thời điểm cụ thể môi trường cụ thể và đối với từng cá nhân. Các nhà quản lý cần phân tích, xác định chính Luan van 8 xác động cơ NLĐ để từ đó có những điều chỉnh phù hợp với mục tiêu của tổ chức. Lợi ích Lợi ích được hiểu là kết quả mà con người nhận được qua các hoạt động của bản thân, cộng đồng, tập thể và xã hội nhằm thỏa mãn nhu cầu bản thân.
Lợi ích có vai trò to lớn trong quản lý, nó tạo động lực mạnh mẽ cho các hoạt động nhất định của con người, nó buộc con người phải động não, cân nhắc, tìm phương thức thực hiện có hiệu quả nhất các mục tiêu thỏa mãn những nhu cầu của mình. Tương tự như các dạng nhu cầu, lợi ích cũng gồm hai dạng là lợi ích vật chất là lợi ích tinh thần. Lợi ích tạo ra động lực lao động. Ngày nay, lợi ích không chỉ dừng lại là những gì mà tổ chức mang lại cho NLĐ mà còn do các yếu tố khác như các yếu tố bên ngoài (đánh giá của xã hội, đánh giá của các đối tác, sự đánh giá và sự kỳ vọng của người thân, bạn bè.) và các yếu tố thuộc về bản thân NLĐ (lý tưởng, hoài bão, các kế hoạch của cá nhân trong tương lai.
Giữa lợi ích và nhu cầu có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Nếu không có nhu cầu thì không thể thoả mãn nhu cầu và lợi ích cũng không xuất hiện. Khi nhu cầu xuất hiện con người sẽ tìm cách để thoả mãn nhu cầu, kết quả của sự thoả mãn nhu cầu là lợi ích đạt được. Khi sự thoả mãn nhu cầu càng lớn, khoảng cách giữa nhu cầu và sự thoả mãn nhu cầu càng được rút ngắn thì lợi ích càng lớn.
Lợi ích đạt được càng cao thì động lực thôi thúc càng mạnh. Khi khoảng cách giữa nhu cầu và sự thoả mãn nhu cầu chưa được rút ngắn thì nó còn thúc đẩy con người hành động để rút ngắn khoảng cách đó. Đó chính là động lực, động lực muốn rút ngắn khoảng cách đó để đem lại lợi ích cao nhất. Động lực lao động Bản chất của động lực là những gì kích thích con người hành động để đạt đến mục tiêu nào đó và mục tiêu đó được đặt ra một cách có ý thức, được phản ánh bởi động cơ của NLĐ.
Động cơ là bộ phận quan trọng nhất Luan van 9 trong một bộ máy giúp cho bộ máy đó chuyển động còn động lực chính là nhiên liệu giúp cho bộ phận đó vận hành. Nói cách khác, động cơ lao động chính là nguyên nhân, lý do để cá nhân NLĐ tham gia vào quá trình lao động còn động lực lao động là biểu hiện của sự thích thú, hưng phấn, thôi thúc họ tham gia làm việc. Ví dụ: lý do mỗi người phải đi làm là vì hàng tháng họ cần có một khoản tiền để chi tiêu cho nhu cầu cá nhân, vậy “cần có một số tiền” chính là động cơ và “chi tiêu cho nhu cầu cá nhân” chính là động lực. Động lực thường mang tính bền vững và dài hạn, động cơ thường mang tính ngắn hạn, nhất thời.
Theo từ điển tiếng Việt, động lực được hiểu là cái thúc đẩy, làm tăng tốc độ của sự vận động và phát triển. Còn trong tiếng Anh, “động lực” có nghĩa là “motivation” mang nghĩa là chuyển động, thúc đẩy, ảnh hưởng, phấn chấn. Động lực được chia làm hai loại: động lực bên ngoài và động lực bên trong: + Động lực bên ngoài: là những tác động của các yếu tố bên ngoài làm cho con người hành động. + Động lực bên trong: là những ảnh hưởng từ chính bản thân con người do họ thấy có lợi ích từ hành động đó đem đến niềm vui, sự thỏa mãn, thích thú hoặc phải tuân thủ những chuẩn mực, giá trị mà họ cho là đúng đắn hoặc niềm tự hào khi thực hiện những công việc không thú vị.
Như vậy, loại động lực bên trong là loại động lực có ảnh hưởng rất mạnh đến người lao động. Động lực là lý do để con người tự nguyện hành động, vượt qua khó khăn, thách thức để không chỉ hoàn thành nhiệm vụ mà còn đáp ứng hơn những điều mà tổ chức mong chờ ở họ. Với mục đích tối ưu hóa quá trình điều phối các công việc để chúng có thể được hoàn thành với hiệu suất và hiệu quả cao nhất bởi những người lao động trong một tổ chức nhất định, các nhà quản trị học xem xét động lực như là những yếu tố có tác dụng thúc đẩy, Luan van 10 khuyến khích, động viên con người nỗ lực lao động, làm việc nhằm hướng tới mục tiêu của cá nhân và mục tiêu của tổ chức. Tác giả đã đưa ra mô hình về kết quả thực hiện công việc của mỗi cá nhân như sau: Kết quả thực hiện công việc = Khả năng + động lực Trong đó: Khả năng = Khả năng bẩm sinh x Đào tạo x Các nguồn lực Động lực = Sự khao khát x Sự tự nguyện Mô hình này cho thấy động lực có tác động rất lớn đến thực hiện công việc của mỗi cá nhân.
Điều này giải thích tại sao có những cá nhân có trình độ chuyên môn, năng lực làm việc cao nhưng kết quả công việc lại thấp hơn kỳ vọng của tổ chức, bởi người đó không có động lực làm việc hoặc động lực làm việc yếu. Như vậy, để đạt được kết quả thực hiện công việc tốt cần phải quan tâm tới động lực và nâng cao khả năng của mỗi người [16]. Theo quan điểm của Nguyễn Ngọc Quân, Nguyễn Vân Điềm (2012) Giáo trình Quản trị nhân lực, nhà xuất bản Đại học Kinh tế Quốc dân: “Một cách tự nhiên thì động lực được hiểu là sự khát khao và tự nguyện của con người nhằm tăng cường sự nỗ lực để đạt được mục đích hay một kết quả cụ thể (Nói cách khác động lực bao gồm tất cả những lý do khiến con người hành động)” [7]. Từ những nghiên cứu trên, có thể thấy bản chất của động lực: (i) Động lực là một hiện tượng cá nhân.