Chương 1: Cơ sở lý luận về tạo động lực lao động trong doanh nghiệp. Chương 2: Thực trạng tạo động lực lao động tại Công ty Trách nhiệm hữu hạn Cáp điện lực Kevin Việt Nam. Chương 3: Giải pháp đẩy mạnh tạo động lực lao động tại Công ty Trách nhiệm hữu hạn Cáp điện lực Kevin Việt Nam. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TẠO ĐỘNG LỰC LAO ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP 1.
Một số khái niệm cơ bản 1. Nhu cầu Theo tác giả Bùi Anh Tuấn: “Nhu cầu được hiểu là sự không đầy đủ về vật chất hay tinh thần mà làm cho một số hệ quả (tức là hệ quả của việc thực hiện nhu cầu) trở nên hấp dẫn” [24]. Nhu cầu gắn liền với với sự tồn tại và phát triển của con người cũng như cộng đồng và tập thể xã hội. Hệ thống nhu cầu của con người là rất phức tạp, tuy nhiên về cơ bản nhu cầu được chia thành 2 nhóm chính là: nhu cầu vật chất, nhu cầu tinh thần.
Xã hội ngày càng phát triển kéo theo nhu cầu của con người sẽ ngày càng đa dạng, phong phú thì việc thoả mãn các nhu cầu về vật chất cũng như tinh thần là một trong những động cơ lao động, thúc đẩy người lao động hăng say, nhiệt tình thực hiện các công việc được giao cũng như gia tăng năng suất lao động. Chính vì vậy, các nhà quản trị, người sử dụng lao động cần phải tìm hiểu, nắm bắt những nguyện vọng, mong muốn hợp lý, chính đáng của người lao động trong quá trình thực hiện công việc, nhân viên mong muốn điều gì từ nhà quản trị. Từ đó giúp đỡ họ tháo gỡ các khó khăn trong công việc. Bên cạnh đó, nhà quản trị cũng cần liên tục cải tiến, đổi mới phong các quản trị, đối xử công bằng và tạo cơ hội cho tất cả nhân viên đều được phát triển bản thân.
Trong thời đại mới với sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế thị trường, các hoạt động điều tra, nghiên cứu để chỉ ra đúng các nhu cầu của người lao động là một trong những phương pháp hiệu quả để các nhà quản trị có thể đánh giá chính xác nhu cầu, nguyện vọng, mong muốn của người lao động để đưa ra các quyết định phù hợp để thoả mãn những nhu cầu, nguyện vọng, mong muốn đó, giúp người lao động tiếp tục yên tâm làm việc, nhiệt TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 10 tình và hăng say hơn đối với nhiệm vụ được giao, phát huy tối đa năng lực của bản thân để cống hiến cho tổ chức. Động lực lao động Động lực Động lực được đề cập rất nhiều trong các nghiên cứu, bộ môn khoa học, có nhiều khái niệm, ý kiến về động lực như: Động lực được hiểu là nhân tố kích thích con người nỗ lực lao động trong những điều kiện có thuận lợi nó tạo ra kết quả cao. Động lực cũng là sự khát khao tự nguyện của người lao động để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới việc đạt được các mục tiêu, kết quả nào đó [16]. Động lực của người lao động là những nhân tố bên trong kích thích con người tăng cường, nổ lực làm việc trong điều kiện cho phép để gia tăng năng suất và có thể đạt hiệu suất cao hơn.
Như vậy, từ các khái niệm, ý kiến trên có thể hiểu: Động lực là động cơ thúc đẩy tất cả các hoạt động của con người, nó thúc đẩy con người khát khao, tự nguyện để nỗ lực đạt mục tiêu đã đặt ra Động lực lao động Có nhiều định nghĩa về động lực được đưa ra, mỗi tác giả có những quan điểm của bản thân mình: Là sự khát khao tự nguyện nhằm tăng cường mọi sự nỗ lực của con người để đạt tới một mục đích và kết quả cụ thể nào đó của tổ chức Theo tác giả Bùi Anh Tuấn: “Động lực lao động là những nhân tố bên trong kích thích con người tích cực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao. Biểu hiện của động lực là sự sẵn sàng, nỗ lực, say mê làm việc nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức cũng như bản thân người lao động” [24]. Còn theo hai tác giả Nguyễn Vân Điềm và Nguyễn Ngọc Quân: “Động lực lao động là sự khao khát, tự nguyện của người lao động để tăng cường nỗ lực nh m hướng tới một mục tiêu, kết quả nào đó” [16]. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 11 Có thể hiểu động lực lao động chính là động cơ thúc đẩy con người trong lao động, nó thúc đẩy người lao động khát khao, tự nguyện để nỗ lực trong lao động nhằm đạt mục tiêu đề ra.
Lợi ích Theo Lê Thanh Hà viết trong Giáo trình Quản trị nhân lực tập II có trình bày “Lợi ích là mức độ đáp ứng các nhu cầu vật chất và tinh thần do công việc đó tạo ra” [7]. Theo quan niệm trên lợi ích được hiểu là thành quả mà người lao động nhận được thể hiện qua mức độ thỏa mãn nhu cầu về vật chất hay tinh thần khi họ tham gia sản xuất hoặc thực hiện một việc nào đó. Lợi ích và nhu cầu có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Khi nhu cầu xuất hiện cá nhân đó sẽ tìm cách để thoả mãn nhu cầu, kết quả của sự thoả mãn nhu cầu là lợi ích đạt được.
Sự thoả mãn nhu cầu càng lớn, khoảng cách giữa nhu cầu và sự thoả mãn nhu cầu càng được rút ngắn thì lợi ích càng lớn. Trong công tác quản lý, quản trị nhân sự lợi ích đóng vai trò rất quan trọng trong hoạt động lao động, lợi ích tạo ra động lực mạnh mẽ cho các hoạt động của người lao động, buộc họ phải tính toán, đi tìm những cách thức tốt nhất để nhằm thỏa mãn nhu cầu của mình. Lợi ích đạt được càng cao thì động lực thôi thúc càng mạnh. Con người luôn muốn rút ngắn khoảng cách giữa nhu cầu và sự thỏa mãn, điều này chính là động lực, động lực muốn rút ngắn khoảng cách đó để đem lại lợi ích cao nhất.
Các nhà quản trị doanh nghiệp khi tìm hiểu được tâm lý lợi ích của người lao động sẽ có những biện pháp phù hợp để khuyến khích người lao động hăng say làm viêc đạt hiệu quả công việc tốt nhất. Tạo động lực lao động Tạo động lực Mỗi cá nhân có những nhu cầu của riêng bản thân mình. Từ những nhu cầu đó sẽ xuất hiện các mong muốn và thúc đẩy họ hành động để đạt được mục tiêu của mình từ đó tạo ra được sự thỏa mãn. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 12 Như vậy, có thể thấy động lực của con người mang tính chủ quan, tự thân và chịu sự chi phối, quy định của các quy luật tự nhiên.
Mỗi cá nhân sẽ có những hành động, ý thức và tình cảm, có lý trí và mục tiêu, chịu nhiều sự tác động của ngoại cảnh, môi trường sống cũng như môi trường làm việc. Vì vậy, có thể tạo ra và phát huy động lực ở mỗi cá nhân bằng những tác động đến ý thức, tình cảm, lý trí và nhu cầu của họ. Khi bàn về khái niệm tạo động lực đã có nhiều quan điểm của các tác giả: Theo tác giả Nguyễn Hữu Lam (2007), “Tạo động lực là các biện pháp và cách ứng xử của doanh nghiệp và của nhà quản lý nhằm tạo ra sự khao khát và tự nguyện của nhân viên cố gắng phấn đấu để đạt được các mục tiêu của doanh nghiệp đề ra” [10]. Theo tác giả Nguyễn Xuân Lan (2010), “Tạo động lực là quá trình tạo ra môi trường để kích thích cho hành động, động viên những cố gắng của người lao động” [13].
Tổng kết lại, có thể hiểu tạo động là sự vận dụng các chính sách, biện pháp, các công cụ quản lý thích hợp của người sử dụng lao động tác động làm cho người lao động có động lực trong công việc, thúc đẩy họ hài lòng với công việc, mong muốn và nỗ lực để đạt được mục tiêu cá nhân cũng như mục tiêu chung của tổ chức. Như vậy, theo tiếp cận này, tạo động lực là quá trình làm nảy sinh động lực trong mỗi cá nhân người lao động. Tạo động lực lao động Vấn đề tạo động lực lao động cho nhân lực nói chung và cho người lao động trong tổ chức nói riêng đã được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu. Theo tác giả Bùi Anh Tuấn “Tạo động lực lao động được hiểu là hệ thống các chính sách, biện pháp, thủ thuật quản lý tác động đến người lao động nhằm làm cho người lao động có động lực trong làm việc” [24].
Theo tác giả Thanh Hà: “Tạo động lực lao động là tổng hợp các biện pháp và cách hành xử của tổ chức, nhà quản lý để tạo ra sự khát khao, tự nguyện của người lao động buộc họ phải nỗ lực, cố gắng phấn đấu nhằm đạt TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 13 được các mục tiêu mà tổ chức đề ra. Các biện pháp được đặt ra có thể là các đòn bẩy kích thích về tài chính, phi tài chính, cách hành xử của tổ chức được thể hiện ở điểm tổ chức đó đối xử lại với người lao động như thế nào”[6]. Như vậy, tạo động lực lao động có thể hiểu là việc người sử dụng lao động, các nhà quản trị vận dụng hệ thống các chính sách, biện pháp, cách thức quản lý nhằm tác động tới người lao động làm nảy sinh, duy trì và phát huy động lực của mỗi cá nhân người lao động. Qua đó, giúp người lao động có động lực làm việc, gia tăng sự hài lòng của người lao động và mong muốn được đóng góp, cống hiến cho tổ chức, doanh nghiệp.
Để tạo động lực lao động cho người lao động thì người quản lý phải tác động đến ý thức, tình cảm, lý trí và nhu cầu của người lao động. Tạo động lực lao động có nhiều ý nghĩa và lợi ích to lớn: Đối với người lao động: Tạo động lực lao động giúp họ có thể tự đánh giá và cải thiện, hoàn thiện bản thân, nhận thấy bản thân có vai trò, ý nghĩa nhất định trong công việc và với tổ chức, doanh nghiệp mà mình đang làm việc. Đối với tổ chức và doanh nghiệp: Tạo động lực lao động giúp tổ chức phát triển nguồn nhân lực, giữ chân đội ngũ lao động, đặc biệt là những người có tay nghề, chuyên môn kỹ thuật cao và nắm giữ các vị quan trọng trong tổ chức.