phần Mở đầu và Kết luận, Luận văn đƣợc trình bày trong 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về tạo động lực lao động thông qua thù lao tài chính trong doanh nghiệp Chƣơng 2: Thực trạng tạo động lực lao động thông qua thù lao tài chính tại Công ty Bảo hiểm MIC Hà Nội Chƣơng 3: Giải pháp tạo động lực lao động thông qua thù lao tài chính tại Công ty Bảo hiểm MIC Hà Nội 10 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TẠO ĐỘNG LỰC LAO ĐỘNG THÔNG QUA THÙ LAO TÀI CHÍNH TẠI DOANH NGHIỆP 1. Nhân viên Nhân viên hay cả một đội ngũ nhân viên là những ngƣời làm thuê cho một t chức, đơn vị hay một cơ quan, đoàn thể nào đó nhƣng thiên về lao động trí óc hơn. H có thể là: Nhân viên kinh doanh trong các công ty quảng cáo, tiếp thị, công nghệ thông tin và thời trang; Công chức, viên chức làm việc ở các cơ quan nhà nƣớc; Nhân viên văn thƣ; Nhân viên lƣu trữ; Nhân viên bán hàng; Nhân viên thu ngân… 1. Tạo động lực lao động Khi nói đến động lực lao động ta thƣờng nói đến động cơ lao động và so sánh làm r sự khác biệt giữa chúng để hiểu r hơn về động lực lao động.
Động cơ là mục đích chủ quan hoạt động của con ngƣời, là cái thúc đẩy con ngƣời hành động nhằm đáp ứng các nhu cầu đặt ra. Động cơ lao động của con ngƣời xuất phát từ những nhu cầu thiết yếu nhất của con ngƣời nhƣ: nhu cầu ăn, mặc, ở, đi lại, phát triển, đƣợc tôn tr ng. Những nhu cầu này khác nhau trong các giai đoạn khác nhau của nền kinh tế. Động cơ là mục đích chủ quan hoạt động của con ngƣời, là động lực thúc đẩy con ngƣời hành động nhằm đáp ứng các nhu cầu đặt ra.
NLĐ khi tham gia vào quá trình lao động đều nhằm đạt đƣợc mục đích nào đó, nhƣ tiền lƣơng, cơ hội thăng tiến hay sự kh ng định mình. Trong khi đó, Động lực lao động là những nhân tố bên trong, kích thích con ngƣời nỗ lực làm việc trong điều kiện cho phép, tạo ra năng suất và hiệu quả cao. Biểu hiện của động lực là sẵn sàng say mê làm việc nhằm đạt 11 đƣợc mục tiêu của t chức cũng nhƣ của ngƣời lao động [5,57]. Có thể hiểu động lực lao động là sự khao khát thỏa mãn nhu cầu và là sự tự nguyện, là sự tăng cƣờng, nỗ lực thực hiện công việc của ngƣời lao động nhằm hƣớng tới việc đạt đƣợc các mục tiêu của t chức.
Đây chính là sự khác biệt giữa động cơ lao động và động lực lao động. Động lực lao động có tính bền vững hơn, động lực lao động thƣờng xuất phát từ nội tâm của ngƣời lao động và mang tính bền vững dài hạn, động cơ lao động thƣờng mang tính ngắn hạn, nhất thời, sẽ xuất hiện khi có nhu cầu cần đƣợc đáp ứng của con ngƣời. Nhƣng, động lực lao động và động cơ lao động đều xuất phát từ bản thân của mỗi con ngƣời, khi con ngƣời ở những vị trí khác nhau, với những đặc điểm tâm lý khác nhau sẽ có những mục tiêu mong muốn khác nhau. Động cơ lao động và động lực lao động đều hết sức quan tr ng, nhà quản trị cần tìm hiểu r để đạt đƣợc mục tiêu của mình.
Nghiên cứu về tạo động lực lao động có nhiều quan điểm khác nhau về tạo động lực lao động. Theo Lê Thanh Hà (2013), Tạo động lực lao động là t ng hợp các biện pháp và cách ứng xử của t chức, của các nhà quản lý nhằm tạo ra sự khao khát và tự nguyện của ngƣời lao động cố gắng phấn đấu để đạt đƣợc các mục tiêu của t chức. Hay Trần Kim Dung (2011), Tạo động lực trong lao động là việc xây dựng, thực thi các biện pháp, giải pháp, khuyến khích ngƣời lao động nâng cao năng suất lao động, phát huy sáng kiến cải tiến kỹ thuật… thông qua các đòn bẩy về kích thích vật chất và tinh thần. Mặc d quan điểm tiếp cận khác nhau nhƣng đều thống nhất với nhau về mặt bản chất tạo động lực lao động là vận dụng các phƣơng pháp, cách thức mà t chức có thể thực hiện đƣợc để thỏa mãn nhu cầu của ngƣời lao động từ đó h sẽ có động cơ làm việc, cống hiến cho t chức, gắn bó lâu dài với t chức.
Trong luận văn này, tạo động lực lao động đƣợc hiểu là t ng hợp các biện pháp khuyến khích ngƣời lao động làm việc với năng suất và hiệu quả cao nhằm 12 đạt đƣợc các mục tiêu của t chức đặt ra trong từng thời kỳ nhất định. Thù lao tài chính Theo Lê Thanh Hà về th lao tài chính đƣợc ghi trong giáo trình quản trị nhân lực II, các khoản th lao tài chính bao gồm các khoản th lao cơ bản, các khuyến khích tài chính, các phúc lợi tài chính. Với cách tiếp cận khác của Nguy n Quốc Tuấn trong cuốn Quản trị nguồn nhân lực xuất bản năm 2006, thì chia th lao thành th lao vật chất và phi vật chất. Cách chia này cũng tƣơng tự với th lao tài chính và phi tài chính.
Trong đó, th lao vật chất hay th lao tài chính bao gồm th lao trực tiếp và gián tiếp. Th lao vật chất trực tiếp bao gồm lƣơng công nhật, lƣơng tháng, tiền hoa hồng và tiền thƣởng. Th lao vật chất gián tiếp bao gồm chính sách mà công ty áp dụng nhƣ: Bảo hiểm nhân th , y tế, các loại trợ cấp xã hội; các loại phúc lợi bao gồm các kế hoạch về hƣu, an sinh xã hội, đền b cho công nhân làm việc trong môi trƣờng độc hại, làm việc thay ca, làm việc ngoài giờ làm việc vào ngày nghỉ l …; các trợ cấp giáo dục, trả lƣơng trong trƣờng hợp vắng mặt vì nghỉ hè, nghỉ l , ốm đau, thai sản… Theo Đỗ Thị Tƣơi (2018), "Th lao tài chính là các khoản th lao đƣợc doanh nghiệp thực hiện thông qua các công cụ bằng vật chất, giúp ngƣời lao động tái sản xuất sức lao động". Thành phần của th lao tài chính bao gồm: tiền lƣơng (tiền công), phụ cấp lƣơng; khuyến khích tài chính và phúc lợi tài chính.
Th lao tài chính là khoản chi trả bằng tiền mà ngƣời sử dụng lao động trả cho ngƣời lao động thông qua mối quan hệ thuê mƣớn giữa hai chủ thể. Là hình thức th lao thực hiện bằng các công cụ tài chính nhƣ tiền lƣơng, tiền thƣởng, c phần, phụ cấp, phúc lợi…. Đó chính là khoản tiền mà ngƣời sử dụng lao động trả cho ngƣời lao động do h đã thực hiện những công việc mà ngƣời sử dụng lao động giao. 13 Theo Điều 90 luật lao động "Tiền lƣơng là khoản tiền mà ngƣời sử dụng lao động trả cho ngƣời lao động để thực hiện công việc theo thoả thuận" và "Tiền lƣơng trả cho ngƣời lao động căn cứ vào năng suất lao động và chất lƣợng công việc".
Theo cách hiểu này, trong tiền lƣơng đã bao gồm cả phụ cấp lƣơng. Tiền lƣơng là động lực tài chính chủ yếu kích thích ngƣời lao động hăng hái làm việc, nhằm tăng năng suất lao động. Tiền lƣơng một mặt vừa tạo ra sự thoả mãn trong công việc nếu nhƣ nó phản ánh đúng giá trị đóng góp của mỗi cá nhân ngƣời lao động và ngƣợc lại nó sẽ tạo ra sự bất mãn. Tiền lƣơng là một phần thu nhập mà ngƣời sử dụng lao động trả cho ngƣời lao động khi h hoàn thành một công việc nhất định.
Tiền lƣơng cao sẽ thu hút và hấp dẫn ngƣời lao động về với doanh nghiệp, giữ ngƣời lao động gắn bó với doanh nghiệp. Ngoài ra tiền lƣơng còn biểu hiện giá trị, uy tín, địa vị của ngƣời lao động do đó tiền lƣơng còn khuyến khích ngƣời lao động làm việc và ngƣợc lại nếu tiền lƣơng không thoả đáng nó sẽ kìm hãm sự say mê của ngƣời lao động với công việc. Tạo động lực lao động th ng qua th lao tài ch nh 1. Tạo động lực lao động thông qua tiền lương và phụ cấp lương Tiền lƣơng là thƣớc đo giá trị lao động có tác động chủ yếu kích thích ngƣời lao động tăng năng suất lao động, hăng say làm việc, cống hiến sức mình cho doanh nghiệp.
Tuy nhiên nếu doanh nghiệp không nghiên cứu cụ thể về cách tính trả lƣơng của mình cho ngƣời lao động thì nó sẽ đem đến tác động không tốt nhƣ trì trệ công việc, bất mãn, rời bỏ doanh nghiệp, làm xấu hình ảnh của doanh nghiệp. Trong nền kinh tế hiện nay, con ngƣời có rất nhiều các nhu cầu khác nhau và để thoả mãn đƣợc những nhu cầu đó thì con ngƣời phải bán sức lao động của mình. Và khi ngƣời lao động bán sức lao động của mình cho ngƣời sử dụng lao động thì h luôn mong muốn đƣợc trả công một cách xứng đáng. Do vậy, tạo động lực lao động thông qua tiền 14 lƣơng cần phải thoả mãn những điều sau: - Tiền lƣơng trả cho NLĐ phải dựa trên kết quả lao động cuối c ng của h.
Tức là, doanh nghiệp trả lƣơng cho NLĐ phải căn cứ vào kết quả của NLĐ đã làm đƣợc trong tháng, để việc trả lƣơng này công bằng doanh nghiệp phải xây dựng các hệ thống tính toán những đóng góp, tham gia lao động của NLĐ cho doanh nghiệp, những nhiệm vụ mà doanh nghiệp đề ra NLĐ đã hoàn thành đƣợc. Đối với những công việc làm lƣơng thời gian phải căn cứ vào cấp bậc, chức vụ, chức danh, các bảng đánh giá tham gia lao động do doanh nghiệp xây dựng. Đối với công việc làm lƣơng sản phẩm cần căn cứ vào số lƣợng sản phẩm đã hoàn thành bởi ngƣời lao động. Để thực hiện tốt đƣợc điều này, doanh nghiệp phải có quy chế trả lƣơng, trong đó quy định r ràng các tiêu chí đánh giá công việc thể hiện sự công bằng, minh bạch.
Công bằng giữa những ngƣời lao động trong t chức hay còn đƣợc hiểu là công bằng bên trong nghĩa là việc trả tiền lƣơng, tiền công phải có sự phân biệt về số lƣợng và chất lƣợng lao động, không đƣợc cào bằng trả lƣơng bình quân chia đều. Việc trả lƣơng phải gắn với năng suất lao động, kết quả sản xuất biểu hiện qua số lƣợng và chất lƣợng hiệu quả của lao động, ngƣời có trình độ tay nghề, chức danh cao thì đƣợc trả lƣơng cao và ngƣợc lại. Phải trả lƣơng ngang nhau cho những lao động nhƣ nhau điều này phải đƣợc phản ánh trong chính sách tiền lƣơng, đặc biệt là trong hệ thống thang bảng lƣơng, các hình thức trả lƣơng cho ngƣời lao động.