phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn kết cấu gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về tạo động lực lao động trong doanh nghiệp. Chƣơng 2: Thực trạng tạo động lực lao động cho nhân viên tại Công ty Cổ phần Chứng khoán Tân Việt. Chƣơng 3: Giải pháp hoàn thiện tạo động lực lao động cho nhân viên tại Công ty Cổ phần Chứng khoán Tân Việt. 8 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TẠO ĐỘNG LAO ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP 1.
Nhu cầu Theo Bùi Thị Xuân Mai: “Nhu cầu là những đòi hỏi của cá nhân để tồn tại và phát triển, nhu cầu thường là những đòi hỏi đi từ thấp tới cao, nhu cầu có tính phong phú, đa dạng, thay đổi theo bối cảnh (cá nhân và xã hội…)” [15] Nhu cầu vật chất là nhu cầu tổng hợp về các yếu tố vật chất cần thiết để con ngƣời tồn tại và phát triển trong một điều kiện môi trƣờng nhất định. Khi xã hội ngày càng phát triển, nhu cầu vật chất của con ngƣời đƣợc tăng lên cả về số lƣợng và chất lƣợng. Nhu cầu tinh thần là những yếu tố làm thỏa mãn về mặt tâm lý, tạo những điều kiện để con ngƣời phát triển về mặt trí lực, tạo ra tâm lý thoải mái trong quá trình lao động. Nhu cầu vật chất và tinh thần là hai lĩnh vực khác biệt nhƣng có mối quan hệ khăng khít với nhau.
Trong quá trình phân phối, nhân tố vật chất chứa đựng yếu tố tinh thần và ngƣợc lại, những động lực về tinh thần phải đƣợc thể hiện qua vật chất sẽ có ý nghĩa hơn. Tuy nhiên, tại mỗi thời điểm con ngƣời sẽ ƣu tiên thực hiện nhu cầu nào đòi hỏi cấp thiết hơn. Nhu cầu luôn tồn tại vĩnh viễn nhƣng nhu cầu không phải là yếu tố quyết định đến động lực mà lợi ích mới thực sự là yếu tố quyết định đến động lực. Động cơ Theo giáo trình Tâm lý học quản lý của tác giả Vũ Dũng (2017) “Động cơ là cái thúc đẩy hành động, gắn liền với việc thỏa mãn nhu cầu của chủ thể, là toàn bộ những điều kiện bên trong và bên ngoài có khả năng khơi dậy tính tích cực của chủ thể”.
[4] 9 Động cơ lao động là thái độ, ý thức chủ quan của con ngƣời đối với hành động của mình. Xuất phát từ việc xác định mục đích hành động, động cơ lao động có thể có các dạng nhƣ: - Động cơ trí hƣớng: xuất phát từ ƣớc mơ, hoài bão bên trong con ngƣời, đây chính là động cơ thúc đẩy con ngƣời mạnh mẽ. - Động cơ bên ngoài: là điều kiện thúc đẩy bên ngoài đối với con ngƣời đƣợc biểu hiện dƣới dạng các vật chất và tinh thần thúc đẩy con ngƣời hành động. - Động cơ lý tính: xuất phát từ suy nghĩ một cách đẩy đủ, hiểu biết một cách tƣờng tận.
- Động cơ cảm tính: do bên ngoài thúc đẩy lôi kéo. Động cơ gắn liền với nhu cầu của con ngƣời và hoạt động của mỗi cá nhân là thỏa mãn những nhu cầu bản thân họ. Thỏa mãn đƣợc các nhu cầu này của con ngƣời sẽ tạo ra động cơ, động lực lao động, thúc đẩy con ngƣời hoạt động, làm việc. Việc tìm hiểu để nắm đƣợc động cơ làm việc của NLĐ và tạo điều kiện hiện thực hóa những động cơ chính đáng của họ là một yêu cầu trong hoạt động quản lý của ngƣời lãnh đạo.
Động lực Theo Nguyễn Văn Điềm & Nguyễn Ngọc Quân (2012) thì “Động lực lao động là sự khao khát và tự nguyện của người lao động để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới việc đạt các mục tiêu của tổ chức” [18] Hay theo Bùi Anh Tuấn (2009) “Động lực lao động là những nhân tố bên trong kích thích con người làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao” [21] Theo Lê Thanh Hà (2012): “Động lực của người lao động là những nhân tố bên trong kích thích con người nỗ lực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao. Biểu hiện của động lực là sự sẵn sàng 10 nỗ lực, say mê làm việc nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức cũng như của bản thân người lao động”. [5] Nhƣ vậy có thể thấy động lực là những khả năng bên trong của mỗi ngƣời nhân viên đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy hoạt động của ngƣời nhân viên hƣớng đến hoàn thành mục tiêu, nhiệm vụ đƣợc giao phó trong công cuộc phát triển của doanh nghiệp. Từ các cách hiểu trên có thể khái quát khái niệm động lực: Động lực là yếu tố bên trong của cá nhân mỗi ngƣời nhân viên.
Đó chính là những hoạt động có tính chất khuyến khích động viên nhằm tác động vào nhu cầu của ngƣời nhân viên để tạo nên sự chuyển biến hành vi của họ hƣớng theo những mục tiêu mà doanh nghiệp mong muốn đạt đƣợc. Mối quan hệ giữa nhu cầu – lợi ích – động lực Giữa nhu cầu và lợi ích có mối quan hệ biện chứng với nhau, có nhu cầu thì mới có lợi ích và lợi ích là biểu hiện của nhu cầu. Lợi ích đƣợc biểu hiện sau khi con ngƣời tham gia hoạt động nào đó, lúc này lợi ích của con ngƣời luôn đƣợc tính đến. Một khi nhu cầu đƣợc thỏa mãn càng cao thì động lực tạo ra càng lớn hoặc ngƣợc lại, nếu nhu cầu đƣợc thỏa mãn thấp thì động lực tạo ra cho ngƣời lao động ít hay có thể không có động lực nào cho chính họ.
Từ những nhu cầu khác nhau của con ngƣời đã mang lại cho chính họ những lợi ích khác nhau và tạo ra cho họ động lực làm việc tốt hơn, hiệu quả hơn và đạt đƣợc năng suất cao hơn. Những lợi ích chính là động lực trực tiếp giúp con ngƣời làm việc hết khả năng của mình để có thể mang lại hiệu quả cao trong công việc. Chính vì thế mà cần tạo ra những nhu cầu hợp lý để từng bƣớc có thể thỏa mãn nhu cầu của họ. Tạo động lực lao động Theo Nguyễn Thị Hồng, Giáo trình Tạo động lực lao động – Trƣờng Đại học lao động – xã hội (2021): “Tạo động lực lao động (employee motivation) là hệ thống các biện pháp, chính sách, thủ thuật, hoạt động, cách ứng xử của tổ chức tác động đến người lao động nhằm làm cho người lao động nỗ lực làm việc hiệu quả nhất trong công việc”.
[10] Theo Bùi Anh Tuấn (2009): “Tạo động lực lao động được hiểu là hệ thống các chính sách, biện pháp, thủ thuật quản lý tác động đến người lao động nhằm làm cho người lao động có động lực trong làm việc”. [21] Mỗi ngƣời làm việc đều có những lý do khác nhau. Ngƣời nhân viên đều làm việc bởi họ có thể có đƣợc những thứ mà họ cần từ công việc. Những thứ mà ngƣời nhân viên dành đƣợc từ công việc có ảnh hƣởng tới tinh thần, nhuệ khí, động lực làm việc và chất lƣợng cuộc sống của họ.
Điều mà Nhà quản lý cần làm là sử dụng các động lực để thúc đẩy mọi ngừời thực hiện nhiệm vụ một cách có hiệu quả cho doanh nghiệp nơi họ làm việc. Một tổ chức muốn làm việc có hiệu quả và thành công thì cần phải kích thích và thỏa mãn đƣợc sự nỗ lực của mọi ngƣời để đảm bảo cho việc thực hiện nhiệm vụ có hiệu quả. Tạo động lực cho ngƣời nhân viên là việc dùng những biện pháp nhất định để kích thích ngƣời nhân viên làm việc với tinh thần hăng say với chất lƣợng và hiệu quả cao, có thể coi vấn đề tạo động lực lao động là vấn đề thuộc về sự chủ động của tổ chức. Để có thể tạo động lực lao động cho nhân viên thì tổ chức phải xem xét sẽ phải đƣa ra chính sách nào để thúc đẩy động lực làm việc của ngƣời nhân viên, sẽ phải tạo ra môi trƣờng làm việc, môi trƣờng giao tiếp nhƣ thế nào để ngƣời nhân viên cảm thấy thoải mái nhất và có động lực lao động cao nhất.Tuy nhiên không phải tổ chức nào cũng có những giải pháp hoàn hảo cho tất cả những vấn đề này, bởi nguồn lực tổ chức là có hạn.
Do đó, tổ chức sẽ phải lựa chọn những vấn đề ƣu tiên nhất để giải 12 quyết trƣớc trong phạm vi nguồn lực hạn chế của mình để các quyết định, chính sách. có thể thực hiện đƣợc 1. Các học thuyết có liên quan đến tạo động lực làm việc 1.1 Học thuyết hệ thống nhu cầu của Maslow Nhà tâm lý học ngƣời Mỹ - Abraham Maslow cho rằng con ngƣời có nhiều nhu cầu khác nhau cần đƣợc thỏa mãn và ông đã phân chia các nhu cầu của con ngƣời thành 5 nhóm và sắp xếp theo thứ tự từ thấp đến cao theo hình bậc thang: Hình 1.1: Sự phân cấp nhu cầu của A.Maslow (Nguồn: Giáo trình Quản trị nhân lực, PGS.TS Lê Thanh Hà) Nhóm 1: Nhu cầu sinh học bao gồm những nhu cầu cơ bản để con ngƣời có thể tồn tại nhƣ thức ăn, nƣớc uống, quần áo mặc, nhà ở. Trong lao động, đó là mong muốn đƣợc nhận đƣợc mức tiền lƣơng đủ để trang trải cho các sinh hoạt và đảm bảo cuộc sống của ngƣời nhân viên và gia đình họ.
Nhóm 2: Nhu cầu an toàn là những mong muốn của con ngƣời đƣợc đảm bảo an toàn về thân thể. Trong lao động, đó là công việc ổn định lâu dài, điều kiện làm việc an toàn, đƣợc chăm sóc sức khỏe, đƣợc đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao động - bệnh nghề nghiệp. Nhóm 3: Nhu cầu xã hội thể hiện thông qua giao lƣu, gặp gỡ, tiếp xúc thiết lập các mối quan hệ với những ngƣời khác. Trong lao động, ngƣời nhân 13 viên mong muốn tham gia các hoạt động giao lƣu, sinh hoạt tập thể nhƣ bữa ăn trƣa tập thể, tham gia đội bóng của công ty, các chuyến du lịch, nghỉ mát.
Nhóm 4: Nhu cầu đƣợc tôn trọng là nhu cầu có địa vị, đƣợc ngƣời khác tôn trọng hay thừa nhận đối với sự thành đạt, tài năng, năng lực của một cá nhân. Trong lao động, ngƣời nhân viên đƣợc thăng tiến, đƣợc trao tặng những vật có giá trị, có phòng làm việc đầy đủ tiện ích, phần thƣởng xứng đáng với thành tích đạt đƣợc vì chúng thể hiện sự thừa nhận của tổ chức đối với những đóng góp của họ đối với tổ chức trong thời gian nhất định. Nhóm 5: Nhu cầu tự hoàn thiện là cấp độ cao nhất thể hiện qua những nhu cầu về chân, thiện, mỹ, tự chủ sáng tạo, mong muốn đƣợc phát triển toàn diện cả về thể lực và trí lực.