phần mở đầu; Luận văn gồm 3 chương: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về tạo động lực lao động trong doanh nghiệp Chƣơng 2: Thực trạng tạo động lực lao động cho đội ngũ lập trình viên tại Công ty Cổ phần Đầu tƣ phát triển công nghệ điện tử viễn thông Chƣơng 3: Giải pháp tạo động lực lao động cho nhân viên tại Công ty Cổ phần đầu tƣ phát triển công nghệ điện tử viễn thông 9 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TẠO ĐỘNG LỰC LAO ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP 1.Các khái niệm cơ bản 1. Nhu cầu, lợi ích, động cơ Nhu cầu Là trạng thái tâm lý mà con ngƣời cảm thấy thiếu thốn, không đƣợc thỏa mãn về một cái gì đó và mong muốn đƣợc đáp ứng nó, gắn liền với sự tồn tại và phát triển của con ngƣời cũng nhƣ cộng đồng và tập thể xã hội Vậy nhu cầu có thể chia thành hai nhóm: Nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh thần. "Nhu cầu vật chất gắn liền với những mong muốn về vật chất để tồn tại và phát triển của con người, việc thỏa mãn chúng phụ thuộc vào thù lao tài chính, thù lao tài chính càng cao thì mức độ thỏa mãn các nhu cầu vật chất càng cao. Nhu cầu tinh thần gắn liền với sự hài lòng thỏa mãn về tâm lý.
Tùy thuộc vào từng loại công việc, cách ứng xử của nhà quản lý và tập thể lao động mà mức độ thỏa mãn các nhu cầu tinh thần có thể khác nhau“ [1, tr22- 24]. Ngày nay với xu hƣớng phát triển của nền kinh tế, việc tìm hiểu đúng nhu cầu của ngƣời lao động là một cách tiếp cận hữu hiệu để nhà quản trị có những cách thức phù hợp giúp thõa mãn nhu cầu của ngƣời lao động, tạo môi trƣờng làm việc thuận lợi, thân thiện để ngƣời lao động yên tâm làm việc, cống hiến, phát huy năng lực cho doanh nghiệp. Nhu cầu luôn tốn tại vĩnh viễn nhƣng nhu cầu không phải là yếu tố quyết định đến động lực mà lợi ích mới thực sự là yếu tố quyết định đến động lực. 10 Lợi ích Lợi ích có vai trò to lớn trong hoạt động quản lý, hoạt động lao động của con ngƣời, tạo ra động lực mạnh mẽ cho các hoạt động của con ngƣời, buộc con ngƣời phải động não, cân nhắc, tìm tòi nhằm thỏa mãn nhu cầu của mình.
“Lợi ích là mức độ đáp ứng các nhu cầu vật chất và tinh thần do công việc đó tạo ra” [1, tr27]. Nhu cầu và lợi ích có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, không có nhu cầu thì không có lợi ích, lợi ích là hình thức biểu hiện của nhu cầu, nhu cầu chính là nội dung của lợi ích. Lợi ích của ngƣời lao động càng lớn thì mức độ thỏa mãn nhu cầu càng cao, điều đó làm động lực lao động tăng lên. Chính lợi ích là động lực quan trọng giúp ngƣời lao động làm việc.
Ngày nay, ngoài những yếu tố mà tổ chức mang lại lợi ích cho ngƣời lao động thì còn có các yếu tố bên ngoài nhƣ sự đánh giá của đối tác, của xã hội, sự kỳ vọng của gia đình, bạn bè… và những yếu tố thuộc về bản thân ngƣời lao động nhƣ mơ ƣớc, hoài bão, kế hoạch trong tƣơng lai… Vì vậy lợi ích có vai trò quan trọng trong công tác quản lý, nó tạo động lực mãnh mẽ cho hoạt các hoạt động nhất định của con ngƣời, nó buộc con ngƣời phải tìm phƣơng hƣớng thực hiện hiệu quả nhất các mục tiêu thõa mãn nhu cầu của mình Động cơ Động cơ là chỉ những nỗ lực cả bên trong lẫn bên ngoài của một con ngƣời, có tác dụng khơi dậy lòng nhiệt tình và sự kiên trì theo đuổi một cách thức hành động đã xác định nhằm đạt đƣợc các mục tiêu của tổ chức và thỏa mãn các nhu cầu cá nhân theo mức độ mong muốn. “Động cơ lao động của người lao động xuất phát từ việc mong muố thỏa mãn các nhu cầu thiết yếu cơ bản của người lao động như: nhu cầu ăn, ở, đi lại, phát triển, được tôn trọng…” [14, tr28]. 11 Nhƣ vậy, có thể thấy động cơ lao động rất trừu tƣợng và khó xác định. Vì động cơ lao động bị phụ thuộc vào yếu tố tâm lý, quan điểm xã hội, môi trƣờng sống và ngay cả với ngƣời lao động tại mỗi thời điểm khác nhau, động cơ làm việc cũng khác nhau.
Động lực và động lực lao động Động lực Động lực là động cơ thúc đẩy tất cả các hành động của con ngƣời. Đây là một trạng thái nội tại, cung cấp sinh lực và hƣớng con ngƣời vào những hành vi có mục đích. Nền tảng của động lực là các cảm xúc, mà cụ thể, nó dựa trên sự né tránh, những trải nghiệm cảm xúc tiêu cực và tìm kiếm những cảm xúc tích cực. Động lực mạnh sẽ thúc đẩy con ngƣời hành động một cách tích cực, đạt hiệu quả cao và ngƣợc lại Theo tác giả thì “Động lực được hiểu là sự khát khao, tự nguyện của người lao động để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới việc đạt được các mục tiêu, kết quả nào đó”.
Theo tác giả “Động lực của người lao động là những nhân tố bên trong kích thích con người nỗ lực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu suất cao”. Từ những định nghĩa trên ta có thể đƣa ra một cách hiểu chung nhất về động lực nhƣ sau: Động lực là sự khát khao và tự nguyện của con ngƣời nhằm tăng cƣờng sự nỗ lực để đạt đƣợc mục đích hay một kết quả cụ thể,, động lực bao gồm tất cả những lý do khiến con ngƣời hành động. - Động lực cũng chịu ảnh hƣởng của nhiều nhân tố, các nhân tố này luôn thay đổi và tƣơng đối là khó nắm bắt. Chúng đƣợc chia thành ba nhóm yếu tố cơ bản là: - Những yếu tố thuộc về con ngƣời tức là những yếu tố xuất hiện trong chính bản thân con ngƣời thúc đẩy con ngƣời làm việc.
12 - Những nhân tố thuộc môi trƣờng. - Những yếu tố thuộc về nội dung bản chất công việc. Động lực lao động: Có nhiều khái niệm về động lực lao động, mỗi khái niệm có một quan điểm khác nhau, nhƣng có những điểm chung cơ bản nhất. “Động lực lao động là sự khao khát, tự nguyện của ngƣời lao động để tăng cƣờng nỗ lực nhằm hƣớng tới một mục tiêu kết quả nào đó của tổ chức”[10, tr33] “Động lực lao động là những nhân tố bên trong kích thích con ngƣời tích cực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao.
Biểu hiện của động lực là sự sẵn sàng, nỗ lực, say mê làm việc nhằm đạt đƣợc mục tiêu của tổ chức cũng nhƣ bản thân ngƣời lao động” [14, tr28]. Động lực lao động xuất phát từ trong nội tại suy nghĩ của ngƣời lao động. Động lực lao động xuất phát từ trong nội tại suy nghĩ của ngƣời lao động. Động lực lao động đƣợc thể hiện thông qua những công việc cụ thể mà mỗi ngƣời lao động đang đảm nhiệm và trong thái độ của họ đối với tổ chức.
Mỗi ngƣời lao động đảm nhiệm một công việc khác nhau có thể có động lực lao động khác nhau để làm việc say mê và tích cực hơn. Động lực lao động là sự nỗ lực, cố gắng từ chính bản thân mỗi ngƣời lao động mà ra. Động lực lao động có thể thay đổi vì nó không chỉ phụ thuộc vào trình độ chuyên môn, phẩm chất đạo đức, năng lực của mỗi nhân viên, mà nó còn phụ thuộc vào các yếu tố bên ngoài nhƣ đặc điểm công việc, môi trƣờng làm việc, văn hóa doanh nghiệp…. Biểu hiện của động lực là sự sẵn sàng, nỗ lực, hăng say, nhiệt huyết đam mê….làm việc nhằm đạt đƣợc mục tiêu của tổ chức.
Khi con ngƣời ở những vị trí khác nhau, môi trƣờng khác nhau sẽ có những động lực khác nhau. Nhƣ vậy mục tiêu của các nhà quản lý là phải làm sao tạo ra đƣợc động 13 lực để ngƣời lao động có thể đạt hiệu quả cao nhất phục vụ cho doanh nghiệp mình 1. Tạo động lực lao động trong doanh nghiệp Tạo động lực lao động cho nhân lực nói chung và cho ngƣời lao động trong doanh nghiệp nói riêng đã đƣợc nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu. Theo tác giả Lê Thanh Hà “ Tạo động lực lao động là tổng hợp các biện pháp và các hành xử của tổ chức, nhà quản lý để tạo ra sự khát khao, tự nguyện của ngƣời lao động buộc họ phải nỗ lực, cố gắng phân đấu nhằm đạt đƣợc các mục tiêu mà tổ chức đề ra.
Các biện pháp đƣợc đặt ra có thể là các đòn bẩy kích thích về tài chính, phi tài chính, cách hành xử của tổ chức đƣợc thể hiện ở điểm tổ chức đó đối xử lại với ngƣời lao động nhƣ thế nào” [11, tr27]. Theo tác giả Bùi Anh Tuấn “Tạo động lực lao động đƣợc hiểu là hệ thống chính sách, biện pháp, thủ thuật quản lý tác động đến ngƣời lao động nhằm làm cho ngƣời lao động có động lực trong làm việc” [1, tr29]. Từ các khái niệm trên có thể hiểu rằng tạo động lực lao động chính là việc các nhà quản trị vận dụng một hệ thống các chính sách, biện pháp cách thức quản lý tác động tới ngƣời lao động nhằm làm cho ngƣời lao động có động lực trong công việc, thúc đẩy họ hài lòng hơn với công việc và mong muốn đƣợc đóng góp cho tổ chức, doanh nghiệp. Các học thuyết liên quan đến tạo động lực lao động 1.
Học thuyết nhu cầu của Abraham Maslow Nhà tâm lý học ngƣời Mỹ Abraham Maslow (1908-1970) đã xem xét những vấn đề này và đi đến kết luận rằng con ngƣời có những cấp độ khác nhau về nhu cầu. Khi những nhu cầu ở cấp độ thấp đƣợc thỏa mãn, một nhu cầu ở cấp độ cao hơn sẽ trở thành động lực thúc đẩy. Sau khi một nhu cầu 14 đƣợc đáp ứng, nhu cầu khác sẽ xuất hiện. Kết quả là con ngƣời luôn luôn có những nhu cầu chƣa đƣợc đáp ứng và nhu cầu này thúc đẩy con ngƣời thực hiện những công việc nào đó thảo mãn chúng Maslow chia các nhu cầu đó thành năm loại và sắp xếp theo thứ tự tăng dần nhƣ sau: Hình 1.1: Tháp nhu cầu của Maslow (Nguồn: PGS.
Bùi Anh Tuấn (2012), Hành vi tổ chức, NXB Kinh tế quốc dân) - Nhu cầu sinh lý Là những nhu cầu cơ bản nhất để duy trì cuộc sống của con ngƣời nhƣ nhu cầu ăn ngủ, nhà ở, sƣởi ấm…. và nó đƣợc sắp xếp ở tầng thấp nhất trong hệ thống nhu cầu của con ngƣời.