Chương 1: Những vấn đề cơ bản về tạo động lực làm việc trong các doanh nghiệp. Chương 2: Phƣơng pháp và thiết kế nghiên cứu. Chương 3: Thực trạng công tác tạo động lực tại xí nghiệp chế biến lâm sản Hòa Nhơn. Chương 4: Giải pháp nhằm hoàn thiện công tác tạo động lực làm việc tại Xí nghiệp chế biến lâm sản Hòa Nhơn.
Formatted: Font: Times New Roman, 13 pt Formatted: Right: 0", Tab stops: Not at 0.1" 6 z CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TẠO ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC TRONG CÁC DOANH NGHIỆP Nhƣ Chúng ta biết, “Thành công một phần có đƣợc là ở sự cần cù và lòng Formatted: Font: 13 pt, Vietnamese Formatted: Font: 13 pt nhiệt tình” , (câu này trích hay ở đâu mà để ngoặc kép)mà lòng nhiệt tình thì đƣợc Formatted: Font: 13 pt, Not Bold tạo ra từ động lực lao động, nó là cái làm cho ngƣời ta hăng say làm việc, phát huy Formatted: Font: 13 pt Formatted: Font: 13 pt, Vietnamese hết khả năng làm việc của bản thân, tạo nên năng suất lao động cao. Formatted: Font: 13 pt Nhiệm vụ của ngƣời quản lý là hoàn thành công việc thông qua hành động cụ thể của các nhân viên. John Harvey - Jones, nguyên CEO của một công ty hóa chất lớn nhất nƣớc Anh đã từng phát biểu: “Ý đồ đích thực của quản trị là động viên tập thể sử dụng năng lực của nó để thành đạt mục tiêu” (trích). Đồng ý với quan Formatted: Font: 13 pt, Vietnamese Formatted: Font: 13 pt điểm này, tác giả Nguyễn Hải Sản (1998) (năm xuất bản) trong cuốn Quản trị học Formatted: Font: 13 pt, Vietnamese (Vietnam) cho rằng, chức năng quan trọng với ngƣời quản lý là phải điều khiển và thúc đẩy Formatted: Font: 13 pt nhân viên của mình.
Để làm đƣợc điều này, ngƣời quản lý phải có khả năng xây dựng động lực làm việc với ngƣời lao động. CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN 1. Nhân lực Có rất nhiều khái niệm về nhân lực khác nhau: Từ điển tiếng Việt, Trung tâm Từ điển, Nhà xuất bản Đà Nẵng, 1997 thì nhân lực là sức ngƣời, dùng trong lao động sản xuất. Theo sách Quản trị nhân lực, ĐH Kinh tế quốc dân, Hà Nội: Nhân lực là nguồn lực của mỗi con ngƣời, gồm thể lực và trí lực.
Theo Giáo trình kinh tế về nguồn nhân lực: Nhân lực là sức lực của con ngƣời nằm trong mỗi con ngƣời và làm cho con ngƣời hoạt động. Tác giả thì cho rằng: Nhân lực là sức lực của mỗi con người , bao gồm sức mạnh cơ bắp, trí não của con người được sử dụng để phục vụ đời sống cho bản Formatted: Vietnamese (Vietnam) thân và tổ chức. Formatted: Font: 13 pt Formatted: Font: Times New Roman, 13 pt Formatted: Right: 0", Tab stops: Not at 0. Nguồn nhân lực Formatted: Font: 13 pt, Vietnamese (Vietnam) Theo quan niệm của Thủ tƣớng Phan Văn Khải: “Nguồn nhân lực bao gồm cả sức lao động, trí tuệ và tinh thần gắn với truyền thống của dân tộc ta” (Báo nhân dân, ngày 26/08/1998) Theo sách Quản trị nhân lực, Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội: Nguồn nhân lực là tổng hợp cá nhân những con ngƣời cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố về thể chất và tinh thần đƣợc huy động vào quá trình lao động.
Một số ý kiến khác trích trong Cẩm nang nghề nghiệp (2010) thì cho rằng:thì cho rằng: Trong lý thuyết về tăng trưởng kinh tế thì nguồn nhân lực được coi là một phương tiện hữu hiệu cho việc đảm bảo tốc độ tăng trưởng kinh tế bền vững và còn được xem là nguồn vốn đặc biệc cho sự phát triển – vốn nhân lực (trích sách nào?). Về phương diện Liên Hiệp Quốc thì cho rằng: Nguồn nhân lực là bao gồm những kiến thức kỹ năng và năng lực con người góp phần vào sự phát triển kinh tế của đất nước, còn ngày nay thì nguồn nhân lực bao gồm cả số lượng, không chỉ những người trong độ tuổi lao động mà những người ngoài độ tuổi lao động (trích ở đâu). Theo Giáo sư viện sỹ Phạm Minh Hạc thì nói rằng nguồn nhân lực thể hiện thông qua số lượng dân cư, chất lượng con người (bao gồm thể lực, trí lực, năng lực và phẩm chất). Nguồn nhân lực không chỉ bao hàm chất lượng nguồn nhân lực hiện tại mà còn bao hàm chất lượng nguồn nhân lực trong tương lai.
Từ khái niệm nguồn nhân lực của Giáo sƣ Phạm Minh Hạc (giáo sƣ nào?)_, đã đƣợc nhiều tác giả nghiên cứu, trong đó có luận văn của tác giả Ngô Hữu Phƣớc với đề tài “ Đào tạo nguồn nhân lực tại Công ty CP công nghiệp gốm sứ Taicera”, tác giả luận văn muốn nhấn mạnh nguồn nhân lực là tổng thể tiềm năng của con ngƣời và đƣợc tác giả phân tích kỹ những tiềm năng mà Giáo sƣ nhắc đến nhằm tạo ra một nguồn nhân lực chất lƣợng trong tƣơng lai. Bên cạnh đó tác giả Phan văn Phong (2012) (năm xuất bản) cũng nghiên cứu và đề cập đến vấn đề này trong đề tài Formatted: Font: Times New Roman, 13 pt “Đào tạo nguồn nhân lực Công ty quản lý đƣờng sắt Quảng Nam- Đà Nẵng”. Formatted: Right: 0", Tab stops: Not at 0.1" 8 z Tác giả đồng ý với nhận định trên của Giáo sư Phạm Minh Hạc, từ đó tác giả đi sâu phân tích tiếp trong đề tài của mình. Động cơ Khái niệm Động cơ thƣờng mang tính cá nhân, riêng biệt, luôn đề cập đến cái “vì sao’’ của hành vi con ngƣời.
Khi bạn đói bụng, bạn sẽ nhận thấy cảm giác đó và nó thúc đẩy bạn tìm gì đó để ăn, cảm giác đó thể hiện “ Tôi muốn đƣợc ăn. Kết hợp giữa cảm giác và ý nghĩ đó gọi là “động cơ” Theo Giáo trình Quản trị học, PGS.TS Lê Thế Giới (năm xuất bản2011) thì cho rằng: Động cơ chính là sự nỗ lực bên trong lẫn bên ngoài của con người có tác dụng khơi dậy lòng nhiệt tình và sự kiên trì theo đuổi một cách thức hành động đã xác định. Động cơ ảnh hưởng đến hiệu suất công việc của nhân viên, một phần công việc của nhà quản trị là định hướng và khơi dậy động cơ của nhân viên nhằm hoàn thành mục tiêu của tổ chức. Từ khái niệm này, đã có rất nhiều nghiên cứu vận dụng khái niệm này, trong đó điển hình là luận văn của tác giả Nguyễn Thị Thu Hhuơng (2012), Đề tài “Giải pháp nâng cao động lực thúc đẩy ngƣời lao động của công ty khai thác vàng Bông Miêu”, tác giả đã vận dụng trong việc tạo động cơ kích thích ngƣời lao động làm việc tại công ty.
Các ý kiến khác thì cho rằng: Theo PGS.TS Đỗ Văn Phức (năm?),(2004), Trƣờng Đại học Bách khoa Hà Nội thì ông lại cho rằng: Động cơ là sự thôi thúc con người hướng tới một hoạt động cụ thể nào đó nhằm thỏa mãn một hoặc một số nhu cầu. Theo Tâm lí học macxit, Động cơ là sự phản ánh tâm lí về đối tượng có khả Formatted: Font: 13 pt năng thỏa mãn nhu cầu của chủ thể. Nhu cầu bao giờ cũng nhằm vào một đối tượng nhất định. Nó hối thúc con người hành động nhằm đáp ứng thỏa mãn và chỉ khi gặp được đối tượng có khả năng thỏa mãn thì mới trở thành động cơ thúc đẩy, thôi thúc Formatted: Font: Times New Roman, 13 pt con người hoạt động nhằm thỏa mãn nhu cầu (trích ở đâu?).
Formatted: Right: 0", Tab stops: Not at 0.1" 9 z Tác giả Nguyễn Đình Xuân và Vũ Đức Đán (năm, số trang)(1997) thì Động cơ là sự phản ánh thế giới khách quan vào trong bộ óc con người, nó thúc đẩy con người hoạt động theo mục tiêu nhất định nhằm thỏa mãn nhu cầu và tình cảm của con người.Piaget (năm, số trang): “Động cơ là tất cả các yếu tố thúc đẩy cá thể hoạt động nhằm đáp ứng nhu cầu và định hướng cho hoạt động đó” Tác giả Phan Trọng Ngọ (2005), cho rằng “Động cơ chính là sức hấp dẫn, lôi cuốn của đối tượng mà cá nhân nhận thấy cần chiếm lĩnh để thỏa mãn nhu cầu hay mong muốn của mình” Từ các khái niệm Động cơ của nhiều tác giả trong và ngoài nƣớc, trong luận văn tác giả cho rằng: Động cơ được hiểu là những động lực đằng sau hành động, nó thúc đẩy con người hướng tới và thực hiện hành động đó một cách có mục đích.TS Võ Xuân Tiến (2010) “Một số vấn đề đào tạo và phát triển nguồn nhân lực”, Tạp chí khoa học -- công nghệ, tác giả cũng vận dụng rằng động cơ chính là cái có tác dụng chi phối, thúc đẩy ngƣời ta suy nghĩ và hành động. Động lực Khái niệm Từ điển tiếng anh longmain, “Động lực làm việc là một tác động có ý thức hay vô thức khơi dậy và hướng hành động vào việc đạt được mục tiêu mong đợi” (số trang, xuất bản) Theo Tác giả Mitchell (1999) trong cuốn sách Multlines thì cho rằng Động lực là một mức độ mà một cá nhân muốn đạt tới và lựa chọn để gắn kết các hành vi của mình.TS Nguyễn Ngọc Quân và ThS Nguyễn Văn Điềm (2008), “Động lực lao động là sự khát khao, tự nguyện của ngƣời lao động để tăng cƣờng nỗ lực nhằm hƣớng tới một mục tiêu, kết quả nào đó”. Theo TS Bùi Anh Tuấn (2003), Giáo trình hành vi tổ chức, Động lực lao động Formatted: Font: Times New Roman, 13 pt là những nhân tố bên trong kích thích con người tích cực làm việc trong điều kiện Formatted: Right: 0", Tab stops: Not at 0.1" 10 z cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao. Tác giả muốn nhấn mạnh động lực là sự sẵn sàng nỗ lực, say mê làm việc nhằm đạt đƣợc mục tiêu của tổ chức cũng nhƣ bản thân ngƣời lao động.
Tác giả Nguyễn Thị Hƣờng (2012), với đề tài “ Tạo động lực thúc đẩy ngƣời lao động tại Công ty TNHH MABUCHI MOTOR Đà Nẵng”, tác giả đã vận dụng khái niệm về động lực TS Bùi Anh Tuấn để nghiên cứu cho đề tài của mình. S, (2001) thì Động lực được hiểu là sự tự nguyện nỗ lực ở mức độ cao nhằm hướng tới những mục tiêu của tổ chức, được tạo điều kiện bởi khả năng của những nỗ lực đó để thỏa mãn một số nhu cầu cá nhân. Từ những khái niệm của nhiều tác giả đã đƣa ra, nói một cách chung nhất biểu hiện của động lực là sự sẵn sàng, nỗ lực, say mê làm việc nhằm đạt đƣợc mục tiêu cho tổ chức cũng nhƣ bản thân ngƣời lao động. Từ đó tác giả của luận văn nhận định rằng: Động lực lao động là cái thúc đẩy, kích thích người lao động làm việc và cống hiến.