Chương 1: Cơ sở lý luận về động lực và tạo động lực làm việc. - Chương 2: Phương pháp nghiên cứu. - Chương 3: Thực trạngcông tác tạo động lực tại tổng công ty cổ phần y tế Danameco. - Chương 4: Các giải pháp để nâng cao công tác tạo động lực tại tổng công ty cổ phần y tế Danameco.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐỘNG LỰC VÀ TẠO ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC 1.1 Một số vấn đề cơ bản về tạo động lực làm việc 1.1 Khái niệm động lực, tạo động lực Có rất nhiều khái niệm về động lực Động lực: Là nhân tố bên trong kích thích con người nổ lực làm việc trong điều kiện cho phép để tạo ra năng suất, hiệu quả cao. Động lực: Là sự khơi dậy lòng nhiệt tình, sự kiên trì theo đuổi một hành động xác định và được biểu hiện bởi sự nổ lực, lòng say mê, sự nhiệt huyết để đạt mục tiêu đề ra. Động lực: Là sự sẵn sàng nỗ lực làm việc nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức và thoả mãn được nhu cầu của bản thân người lao động. Động lực: Là sự thôi thúc từ bên trong của mỗi con người lao động, thúc đẩy con người hăng hái làm việc.
Như vậy, có thể hiểu động lực là sự khao khát và tự nguyện của con người nhằm tăng cường mọi sự nỗ lực để đạt được một mục tiêu hoặc một kết quả cụ thể nào đó (Đỗ Xuân Trường, trang 69). Tạo động lực Tạo động lực cho người lao động là việc sử dụng các biện pháp nhất định để kích thích người lao động làm việc một cách tự nguyện, nhiệt tình, hăng say và có hiệu quả công việc tốt nhất. Tạo động lực cũng chính là tạo ra sự hấp dẫn của công việc, của tiền lương, tiền thưởng. để hướng hành vi của người lao động theo một chiều hướng quỹ đạo nhất định.
6 z Hay nói cách khác, tạo động lực là hệ thống các chính sách, biện pháp, thủ thuật quản lý tác động đến người lao động nhằm tạo cho họ có động lực trong công việc.2 Các yếu tố tác động đến động lực lao động Các yếu tố thuộc về con ngƣời Nhu cầu của người lao động Mỗi người có một hệ thống nhu cầu khác nhau, hệ thống nhu cầu đó lại phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố khác nhau bao gồm các yếu tố môi trường và bản thân người lao động, hệ thống nhu cầu của người lao động bản thân nó lại luôn vận động vì thế mà ảnh hưởng của nó tới động lực lao động là rất quan trọng và khó đoán trước. Các giá trị cá nhân Các quyết định cá nhân trước các hiện tượng; đúng, sai, tốt, xấu sẽ dẫn đến những biểu hiện khác nhau của hành vi cá nhân đối với các hiện tượng đó, điều này có tác động tới động lực của người lao động, các giá trị cá nhân của người lao động gần với các hiện tượng sẽ tạo ra động lực cho người lao động. Quan điểm và thái độ Các đặc điểm tính cách Cảm nhận của cá nhân về sự thực hiện công việc Tính cách của cá nhân sẽ tác động đến động lực cũng như phương pháp mà người quản lý sử dụng để tạo ra động lực cho người lao động Năng lực của người lao động Năng lực của người lao động có những ảnh hưởng nhất định đến động lực của người lao động, năng lực cao Các nhân tố thuộc về công việc Đặc điểm, tính chất của công việc Các kỹ năng cần thiết để thực hiện công việc Mức độ phức tạp của công việc 7 z Mức độ chuyên môn hóa trong công việc Sự mạo hiểm, rủi ro của công việc Đặc điểm của từng công việc sẽ quyết định hành động của người lao động. Công việc phù hợp với người lao động sẽ giúp họ làm việc tốt hơn và ngược lại công việc không phù hợp với người lao động sẽ làm cho họ cảm thấy chán nản và không hứng thú với công việc, công việc hiện đại hay không hiện đại, các kỹ năng khó hay dễ, công việc chuyên môn hóa sâu hay nông, thách thức và có chứa đựng rủi ro hay không… tất cả đều có tác động đến động lực lao động của cá nhân tuy nhiên tác động tích cực hay tiêu cực đều phụ thuộc vào sự phù hợp giữa các nhân tố của công việc với các yếu tố thuộc về con người, phù hợp sẽ tạo ra động lực và ngược lại.
(Đỗ Xuân Trường, trang 72) Các nhân tố thuộc về tổ chức Chính sách về Quản trị nguồn nhân lực Các nhân tố thuộc về tổ chức có những ảnh hưởng nhất định đến động lực của người lao động trong tổ chức đó. Các chính sách về quản trị nguồn nhân lực như tuyển dụng, thù lao, đánh giá thực hiện công việc, thăng tiến, khuyến khích nếu được đưa ra hợp lý sẽ làm cho người lao động có động lực, trái lại sẽ làm cho họ không có hứng thú làm việc, chỉ mong muốn duy trì trạng thái thực hiện công việc hiện tại hoặc thậm chí còn đưa lại những phản ứng tiêu cực hơn. Văn hóa công ty và Lãnh đạo trong tổ chức Văn hóa tổ chức và lãnh đạo trong tổ chức cũng có ảnh hưởng nhất định đến động lực lao động, nếu người lao động cảm thấy phù hợp và hòa nhập được với văn hóa và phong cách lãnh đạo trong tổ chức thì người lao động sẽ có động lực trong lao động và ngược lại. Các yếu tố thuộc về Hệ thống kỹ thuật và công nghệ Đây là nhân tố có ảnh hưởng nhiều đến sự thực hiện của người lao động chính vì thế mà có tác động đến động lực lao động của người lao động, hệ thống kỹ thuật và công nghệ phù hợp với năng lực của người lao động tức là cho phép khai 8 z thác tối đa khả năng của cả người lao động và hệ thống kỹ thuật, vì thế tạo ra được động lực cho người lao động.
Các nhân tố chính trên đều giữ vai trò tương đương với nhau trong việc quyết định đến động lực của người lao động, vì thế, khi nghiên cứu về động lực lao động cần phải nghiên cứu một cách toàn diện để xác định một cách đầy đủ các nhân tố và mức độ ảnh hưởng của chúng từ đó mới có thể tìm ra cách thức tạo động lực phù hợp cho người lao động.3 Động viên thúc đẩy Hành vi của con người luôn có tính hướng đích. Nói cách khác, hành vi của chúng ta nói chung được thúc đẩy bởi một mục đích nào đó. Điều đó đồng nghĩa mỗi cá nhân không phải lúc nào cũng hiểu biết một cách có ý thức mục đích của hành vi. Sigmund Freud là một trong những người đầu tiên nhận ra tầm quan trọng của sự thúc đẩy thuộc về tiềm thức.
Ông cho rằng không phải lúc nào con người cũng nhận thức được mọi điều họ muốn, do đó nhiều hành động của họ chịu ảnh hưởng của các động viên tiềm thức hoặc các nhu cầu. Đơn vị cơ sở của hành vi là một hành động. Toàn bộ hành vi là một chuỗi hành động. Động viên thúc đẩy là một thuật ngữ chung áp dụng cho toàn bộ nhóm xu hướng, ước mơ, nhu cầu, nguyện vọng và những thôi thúc tư tưởng thúc đẩy con người hành động theo một mục tiêu nhất định.
Động viên thúc đẩy của con người dựa trên nhu cầu, các nhu cầu này rất khác nhau về mức độ. Một số nhu cầu đối với con người rất cấp thiết như ăn, thở, uống, nhà ở… song cũng có những nhu cầu kém cấp bách hơn như lòng tự trọng, địa vị, bạn bè, sự cống hiến, sự thể hiện bản thân.4 Thúc đẩy nhân viên Người quản lý thúc đẩy cấp dưới, chính là việc họ chủ động tạo ra một môi trường làm việc mà có thể kích thích để người lao động có thể thực hiện công được tốt hơn thông qua sự nỗ lực làm việc của chính bản thân họ. Thúc đẩy tạo ra động lực mạnh mẽ trong việc thực hiện công việc của nhân viên tốt hơn trong điều kiện 9 z trình độ, kỹ năng không thay đổi. Môi trường mà nhà quản trị tạo ra là môi trường mà trong đó có khả năng thỏa mãn tốt nhất những nhu cầu, mong muốn của nhân viên nhờ đó mà nó có tác dụng tạo động lực.5 Vì sao phải thúc đẩy Việc quản lý hiệu quả hay không được đo lường ở việc gia tăng hay không gia tăng đầu ra của tổ chức thuộc quyền.
Hay nói cách khác đầu ra quản lý tùy thuộc ở hiệu năng thực hiện công việc ở các thuộc cấp. Vấn đề là làm thế nào để thuộc cấp làm việc tốt hơn? Đó là câu hỏi mà chính các nhà quản lý phải trả lời nếu họ muốn gia tăng hiệu quả quản lý của họ. Theo nghiên cứu, hành vi thực hiện công việc của một nhân viên bất kỳ chịu sự tác động của hai biến số đó là năng lực đảm bảo thực hiện công việc và sự thúc đẩy từ các nhà quản trị để tạo động viên làm việc mạnh mẽ. Mục đích của thúc đẩy là làm cho người được thúc đẩy đạt được sự thỏa mãn đối với công việc đảm trách từ những yếu tố nào.
Từ đó tạo nên sự kỳ vọng về tương lai khi công việc hoàn thành và tốt hơn. Đồng thời phát hiện được những hệ quả tác động tích cực hoặc trì trệ đến công việc nhằm làm cho con người đem hết tài năng, trí lực vào công việc của một tổ chức để hoàn thành mục tiêu.5 Sự cần thiết của việc nghiên cứu động viên thúc đẩy trong quản lý Trong cơ sở hoạt động sản xuất kinh doanh, người lao động đóng vai trò là người thi hành các nhiệm vụ để thực hiện mục tiêu chung của tổ chức, song bản thân họ cũng có các nhu cầu riêng tư đòi hỏi tổ chức phải thỏa mãn. Các cá nhân không đơn thuần là yếu tố sản xuất như các yếu tố sản xuất khác trong kế hoạch sản xuất, kinh doanh của nhà quản trị. Họ còn là thành viên của các hệ thống xã hội trong nhiều tổ chức, họ là người tiêu dùng hàng hóa và dịch vụ, và như vậy họ tác động lên mọi mặt đời sống xã hội.
Các nhà quản trị có những người mà họ điều khiển, tác động qua lại lẫn nhau trong một hệ thống lớn. Cho nên các nhà quản trị cần phải có sự hiểu biết vai trò của con người, cá tính, nhân cách của họ.