CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TẠO ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CHO NHÂN VIÊN TRONG TỔ CHỨC 1. Cơ sở lý luận về tạo động lực làm việc cho nhân viên trong tổ chức 1.1 Khái niệm, các yếu tố và vai trò của tạo động lực 1. Khái niệm Theo giáo trình Quản trị nhân lực của Ths.Nguyễn Vân Điềm – PGS.TS Nguyễn Ngọc Quân: Động lực lao động là sự khao khát, tự nguyện của người lao động để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới một mục tiêu, kết quả nào đó. [3, trang 16] Theo giáo trình Hành vi tổ chức của TS Bùi Anh Tuấn: Động lực lao động là những nhân tố bên trong kích thích con người tích cực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao.
Biểu hiện của động lực là sự sẵn sàng, nỗ lực, say mê làm việc nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức cũng như bản thân người lao động[8, trang 22]. Có rất nhiều quan niệm khác nhau về động lực lao động nhưng đều có một điểm chung cơ bản nhất: Động lực lao động được hình thành từ mong muốn, sự nỗ lực của chính bản thân người lao động. Như vậy mục tiêu của các tổ chức, doanh nghiệp là phải làm sao tạo được động lực để người lao động có thể làm việc đạt năng suất, hiệu quả cao nhất phục vụ cho tổ chức, doanh nghiệp. Để làm được điều này, ta phải xuất phát từ bản chất của động lực lao động: - Động lực lao động được thể hiện thông qua những công việc cụ thể mà mỗi người lao động đang đảm nhiệm và trong thái độ của họ đối với tổ chức.
Điều này có nghĩa mỗi người lao động đảm nhiệm những công việc khác nhau có thể có những động lực khác nhau để làm việc tích cực hơn. Động lực lao động được gắn liền với một công việc, một tổ chức và một môi trường làm việc cụ thể. - Động lực lao động có thể thay đổi thường xuyên phụ thuộc vào các yếu tố khách quan trong công việc. 8 - Động lực lao động đóng vai trò quan trọng là nguồn gốc trong sự tăng năng suất lao động, tuy nhiên chỉ khi các điều kiện đầu vào khác như trình độ, kỹ năng của người lao động hay trình độ khoa học công nghệ của dây chuyền sản xuất không đổi.
Như vậy, điều quan trọng nhất trong việc tạo động lực lao động là nhà quản trị phải biết được mục tiêu mà người lao động hướng tới trong công việc là gì, từ đó tạo ra hệ thống các chính sách, các biện pháp, các thủ thuật quản lý tác động đến người lao động nhằm làm cho người lao động có được động lực để làm việc. Vai trò của việc tạo động lực a. Đối với người lao động - Làm tăng năng suất lao động cá nhân: Khi có động lực lao động thì người lao động sẽ thấy yêu thích công việc và làm việc hăng say, kết quả là năng suất lao động cá nhân được nâng cao rõ rệt. Năng suất tăng lên dẫn tới tiền lương cũng được nâng cao hơn trước và nâng cao thu nhập cho người lao động.
- Phát huy được tính sáng tạo: Tính sáng tạo thường được phát huy khi con người cảm thấy thoải mái, tự nguyện khi thực hiện một công việc nào đó. - Tăng sự gắn bó với công việc và công ty hiên tại: khi đã cảm thấy yêu thích và cảm nhận được sự thú vị trong công việc thì sẽ hình thành bên trong họ sự gắn bó với tổ chức hiện tại của mình. - Thêm một lợi ích nữa đối với người lao động đó là khi công việc được tiến hành thuận lợi thì họ sẽ thấy được công sức mình bỏ ra là có ích và đạt được hiệu quả cao. Điều đó tạo cho họ cảm thấy có ý nghĩa trong công việc, cảm thấy mình quan trọng và có ích và từ đó không ngừng hoàn thiện bản thân mình hơn nữa.
Đối với tổ chức - Nguồn nhân lực trong tổ chức sẽ được sử dụng hiệu quả nhất, tốn ít chi phí nhất mà vẫn có thể khai thác tối ưu các khả năng của người lao động và nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh. - Hình thành nên tài sản quý giá của tổ chức đó là đội ngũ lao động giỏi, có tâm huyết, gắn bó với tổ chức đồng thời thu hút được nhiều người tài về làm việc cho tổ chức. 9 - Tạo ra bầu không khí làm việc hăng say, thoải mái, góp phần xây dựng văn hoá doanh nghiệp, nâng cao uy tín, hình ảnh của doanh nghiệp. Đối với xã hội - Động lực lao động giúp các cá nhân có thể thực hiện được mục tiêu, mục đích của mình, đời sống tinh thần của mỗi người sẽ trở nên phong phú hơn, từ đó hình thành nên những giá trị mới cho xã hội.
- Các thành viên của xã hội được phát triển toàn diện và có cuộc sống hạnh phúc hơn khi các nhu cầu của họ được thoả mãn. - Động lực lao động gián tiếp xây dựng xã hội ngày càng phồn vinh hơn dựa trên sự phát triển của các doanh nghiệp. Tạo động lực lao động sẽ thúc đẩy tăng năng suất lao động. Nếu tăng năng suất lao động với một cấp độ nhanh và với quy mô lớn sẽ tạo điều kiện tăng thu nhập kinh tế quốc dân cho phép giải quyết thuận lợi giữa tích lũy và tiêu dùng.
Thông qua tạo động lực lao động sẽ làm tăng năng suất lao động và làm cho của cải vật chất trong xã hội ngày càng nhiều dẫn đến tăng trưởng kinh tế. Tăng trưởng kinh tế lại tác động lại khiến cho người lao động có điều kiện thỏa mãn những nhu cầu của mình ngày càng phong phú và đa dạng. Đời sống mọi người được hạnh phúc ấm no, xã hội sẽ ổn định, phồn vinh. Một số học thuyết về tạo động lực 1.
Thuyết của Abraham Maslow về tháp nhu cầu NHU CẦU TỰ HOÀN THIỆN NHU CẦU ĐƯỢC TÔN TRỌNG NHU CẦU XÃ HỘI NHU CẦU AN TOÀN NHU CẦU SINH LÝ Hình 1. Mô hình tháp nhu cầu của Maslow (Nguồn: Nguyễn Vân Điềm và Nguyễn Ngọc Quân, 2014. Quản trị nhân lực. NXB Lao động Xã hội.
Hà Nội) Hệ thống nhu cầu do Maslow xây dựng là một trong những mô hình phổ biến nhất được sử dụng để nghiên cứu về động cơ cá nhân. Từ hệ thống này có thể nhận thấy, đối với các tổ chức, doanh nghiệp để tạo được động lực cho người lao động, các nhà quản trị phải tìm ra và thỏa mãn các nhu cầu của họ theo cấp độ tăng dần. Khi các nhu cầu cơ bản được thỏa mãn, các nhu cầu ở cấp độ cao hơn sẽ xuất hiện và con người luôn nỗ lực để thỏa mãn các nhu cầu cao hơn đó. - Các nhu cầu tồn tại hay nhu cầu sinh lý Nằm ở vị trí thấp nhất của hệ thống thứ bậc các nhu cầu là nhu cầu tồn tại hay nhu cầu sinh lý.
Chúng bao gồm những nhu cầu căn bản như: thức ăn, nước uống, nghỉ ngơi hay nhà ở. Cơ thể con người cần phải có những nhu cầu này để 11 tồn tại. Tại nơi làm việc, nhu cầu cơ bản này của người lao động có thể được thỏa mãn thông qua việc trả lương tốt và công bằng, cung cấp các bữa ăn trưa hoặc ăn ca miễn phí hoặc đảm bảo các khoản phúc lợi khác như tiền thưởng hay thời gian nghỉ ngơi để phục hồi sức khỏe, thoát khỏi sự mệt mỏi, đơn điệu của công việc. - Nhu cầu an toàn hay nhu cầu được bảo vệ Khi những nhu cầu ở mức thấp nhất được thỏa mãn, con người bắt đầu cảm thấy cần được thỏa mãn một nhu cầu ở cấp độ cao hơn.
Họ muốn được đảm bảo về sự an toàn đối với thân thể, muốn làm việc trong một nơi an toàn, chẳng hạn như trong một phân xưởng được ban lãnh đạo quan tâm bảo vệ sức khỏe và sự an toàn cho công nhân. Điều này giải thích tại sao nhiều người không muốn làm việc trên các công trường xây dựng hay các xưởng đóng tàu. Hơn thế nữa, người công nhân muốn có sự an toàn, ổn định về việc làm lâu dài để đảm bảo cuộc sống lâu dài, họ không muốn bị đẩy ra ngoài đường vì những lý do không chính đáng. - Nhu cầu xã hội Bản chất tự nhiên của con người là luôn tìm cách vượt qua sự cô đơn, sống thành tập thể.
Mỗi người đều muốn là thành viên của một nhóm nào đó và duy trì các mối liên hệ với những người khác. Tất cả chúng ta đều là thành viên của một gia đình, một trường học, nhóm tôn giáo, một cộng đồng hay một nhóm bạn thân thiết. Các nhu cầu này sẽ rất cần thiết một khi các nhu cầu tồn tại và an toàn được đáp ứng. Tại nơi làm việc, mọi người cùng nhau ăn bữa trưa, tham gia vào đội bóng đá của doanh nghiệp và tham gia các chuyến du lịch hay thực hiện các chương trình công tác xã hội khác.
Các nhà quản trị khôn ngoan thường xuyên khuyến khích những hình thức tập hợp đó hay ủng hộ việc thành lập một câu lạc bộ xã hội trong doanh nghiệp. Những hoạt động này tạo điều kiện cho nhân viên trong doanh nghiệp có nhiều cơ hội tiếp xúc lẫn nhau hoặc thậm chí là với các công ty khác trong nước cũng như quốc tế. Đồng thời, chúng còn giúp phát triển ý thức cộng đồng hay tinh thần đồng đội. Trong một số công ty Nhật Bản, toàn thể nhân viên của công ty tập hợp để hát những bài hát truyền thống của công ty vào mỗi buổi sáng trước khi làm việc.
12 - Nhu cầu được kính trọng hay được công nhận Cấp độ tiếp theo là nhu cầu được kính trọng hay thừa nhận đối với sự thành đạt, tài năng, năng lực và kiến thức của một cá nhân. Tại nơi làm việc, những vật tượng trưng cho địa vị có thể thỏa mãn các nhu cầu này. Xe hơi do công ty cấp, xe trong khu đậu xe riêng, những căn phòng làm việc lớn và các thư ký riêng có thể là những thứ cần thiết thiết thực, song chúng cũng để lại ấn tượng về tầm quan trọng và sự thành đạt. Những phần thưởng về sự phục vụ lâu dài và các giải thưởng dành cho những công nhân sản xuất giỏi nhất trong tháng được trao tặng để chứng tỏ sự đánh giá và công nhận thành tích đối với cá nhân của mọi người.Những nhu cầu này cho phép xây dựng niềm tự hào cho nhân viên, thúc đẩy nhân viên không chỉ hoàn thành công việc mà còn hoàn thành với chất lượng cao hơn hẳn.