phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung của luận văn gồm có 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận chung về động lực và tạo động lực làm việc trong lao động. Chƣơng 2: Thực trạng công tác tạo động lực làm việc cho ngƣời lao động tại Cảng Đà Nẵng. Chƣơng 3: Các giải pháp tạo động lực làm việc cho ngƣời lao động tại Cảng Đà Nẵng. Tổng quan tài liệu nghiên cứu Có thể nói vấn đề tạo động lực làm việc đƣợc các nhà nghiên cứu từ nhiều góc độ khác nhau.
Các công trình nghiên cứu đề cập đến nhiều biện pháp tạo động lực cho ngƣời lao động, tuy nhiên, để có thể áp dụng đúng cần căn cứ vào tình hình cụ thể của mỗi doanh nghiệp. Để có cái nhìn tổng thể về luận văn tạo động lực, tác giả lần lƣợt trình bày tóm tắt thông qua một số khảo sát, bài báo tƣ liệu có liên quan. Tài liệu nƣớc ngoài Nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới đã nhận định tầm quan trọng của công tác tạo động lực tác động đến quá trình phát triển của tổ chức. Công trình nghiên cứu thế giới chỉ ra các đặc tính cơ bản của tạo động lực là một nhân tố tổng thể, là sự kết hợp của các nhân tố về sự hài lòng của ngƣời lao động với công việc, các nhu cầu, mong muốn của ngƣời lao động với công việc đƣợc các nhà quản trị đáp ứng họ đến mức nào trong hoàn cảnh và khả năng của doanh nghiệp từ đó tạo ra động cơ, động lực thúc đẩy ngƣời lao động hăng say làm việc.
5 - Luthans (1998) khẳng định động cơ là quá trình gợi lên, thúc đẩy, chỉ đạo duy trì hành vi và hiệu suất, nó là quá trình kích thích con ngƣời hành động và đạt đƣợc công việc mong muốn. Một cách để kích thích là sử dụng hiệu quả động lực, làm cho ngƣời lao động hài lòng hơn với công việc và cam kết của họ. Không phải chỉ duy nhất có tiền mới mang lại động lực mà còn có những ƣu đãi khác có thể tạo động lực, thái độ của nhân viên cụ thể liên quan đến sự hài lòng và sự gắn bó với tổ chức. - Adams (1965) trong nghiên cứu của mình cho rằng những tìm kiếm công bằng xã hội trong phần thƣởng mà ngƣời lao động nhận đƣợc sẽ tạo ra động lực cao.
Đồng thời, theo ông kết quả từ công việc gồm: tiền lƣơng, tiền thƣởng, sự công nhận của cấp trên, quan hệ xã hội. Để có đƣợc những phần thƣởng khác nhau thì các nhân viên phải đóng góp thời gian, kinh nghiệm, nỗ lực, giáo dục và lòng trung thành. Ông cho rằng, con ngƣời có xu hƣớng xem kết quả và đầu vào nhƣ một tỷ lệ và sau đó so sánh các chỉ số này với những ngƣời khác và chuyển thành động lực nếu tỷ lệ này là cao. - Theo tài liệu “The Performance Appraisal Question and Answer Book A Survival guide for manager” của Dick Grote, khi đề cập đến nhà quản trị, tác giả cho rằng có sáu kỹ thuật tạo động lực làm việc: tạo cơ hội cho thành tích và thành tựu, giao quyền cho nhân viên, đƣợc tự do ra quyết định và tự chủ trong công việc, tạo cơ hội đƣợc đào tạo và phát triển, tăng cƣờng số lƣợng các thách thức, đƣợc công nhận và hãy chắc chắn bản thân công việc đã có khả năng tạo động lực.
Tài liệu trong nƣớc - Giáo trình quản trị nhân lực, PGS.TS Nguyễn Ngọc Quân, ThS Nguyễn Vân Điềm (2012), trình bày kiến thức cơ bản và hệ thống về quản trị nhân lực, nội dung có 3 phần, trong đó có Phần III: “Tạo động lực”, phần này trình bày khái niệm động lực lao động, các học thuyết tạo động lực, nội dung công 6 tác tạo động lực gồm: đánh giá thực hiện công việc, thù lao và các phúc lợi, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực. - Bài báo khoa học, đăng trên Tạp chí khoa học và công nghệ, Đại học Đà Nẵng số 5 (40), 2010: “Một số vấn đề đào tạo và phát triển nguồn nhân lực” của tác giả PGS. TS Võ Xuân Tiến, Đại học Đà Nẵng. Tác giả cho rằng động cơ là cái có tác dụng chi phối, thúc đẩy ngƣời ta suy nghĩ và hành động.
Đó chính là sức mạnh bên trong thúc đẩy con ngƣời hoạt động, chỉ đạo hành vi và làm gia tăng lòng quyết tâm bền bỉ giành lấy mục tiêu. Nhƣ vậy động cơ làm việc là sự sẵn sàng dồn tâm trí, sức lực theo đuổi mục tiêu tổ chức để đáp ứng, thỏa mãn nhu cầu cá nhân. - Bài báo khoa học, đăng trên Tạp chí khoa học và bản tin, Đại học Cần Thơ số 35 (66 – 78), 2014, “ Nghiên cứu nhân tố ảnh hưởng đến động lực làm việc của nhân viên trực tiếp sản xuất ở Tổng công ty Lắp máy miền Nam”. Bài báo đã phân tích những kết quả thu thập đƣợc từ khảo sát, kiểm định độ tin cậy thang đo và phân tích nhân tố, phát hiện ra các nhân tố ảnh hƣởng động lực làm việc ngƣời lao động, trên cơ sở nghiên cứu khoa học này làm nền tảng cho tác giả xây dựng nội dung bảng câu hỏi khảo sát.
- Ngoài ra, để có cái nhìn khái quát về các giải pháp tạo động lực thúc đẩy trong lao động, tác giả đã tham khảo một số luận văn về giải pháp tạo động lực tại các công ty khác làm định hƣớng cụ thể cho luận văn của mình. Mặc dù đã cố gắng nỗ lực thực hiện nghiên cứu nhƣng vẫn không thể tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế. Tác giả mong những hạn chế này sẽ là tiền đề cho những nội dung nghiên cứu tiếp theo. Qua đây tác giả muốn bày tỏ lòng cảm ơn chân thành đối với TS.
Nguyễn Quốc Tuấn đã tận tình hƣớng dẫn hoàn thành luận văn của mình. Tác giả cũng gởi lời cảm ơn đến tất cả quý Thầy Cô đã chỉ bảo trong thời gian đƣợc học tập và nghiên cứu tại Đại học Đà Nẵng, cảm ơn sự quan tâm, giúp đỡ của gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã đồng hành trong suốt thời gian thực hiện nghiên cứu này. 7 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐỘNG LỰC VÀ TẠO ĐỘNG LỰC TRONG LAO ĐỘNG 1. NHỮNG KHÁI NIỆM CƠ BẢN TẠO ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CHO NGƢỜI LAO ĐỘNG 1.
Khái niệm Nhu cầu là trạng thái tâm lý mà con ngƣời cảm thấy thiếu thốn không thỏa mãn về một cái gì đó và mong muốn đƣợc đáp ứng nó [2]. Nhu cầu đƣợc hiểu là sự cần thiết về một cái gì đó. Nhu cầu là tính chất của cơ thể sống, biểu hiện trạng thái thiếu hụt của chính cá thể đó và do đó phân biệt nó với môi trƣờng sống. Nhu cầu của cơ thể sống là một hệ thống phức tạp, nhiều tầng lớp, bao gồm vô số các chuỗi mắt xích của hình thức biểu hiện.
Hình thức biểu hiện của nhu cầu đƣợc cụ thể hóa thành đối tƣợng nhất định. Đối tƣợng của nhu cầu chính là cái mà nhu cầu hƣớng đến và có thể làm thỏa mãn nhu cầu đó. Một đối tƣợng có thể làm thỏa mãn một số nhu cầu, một nhu cầu có thể đƣợc thỏa mãn bởi một số đối tƣợng với mức độ thỏa mãn khác nhau. Hiểu đƣợc nhu cầu của ngƣời lao động là nhân tố quan trọng giúp cho doanh nghiệp có chính sách gắn kết chặt chẽ hơn với mong muốn, tâm tƣ của ngƣời lao động.
Một khi nhu cầu của ngƣời lao động đƣợc thỏa mãn thì mức độ hài lòng của ngƣời lao động về công việc và tổ chức của mình sẽ tăng lên và nhờ vậy họ sẽ gắn kết nhiều hơn với doanh nghiệp. Phân loại Nhu cầu con ngƣời phong phú và đa dạng, có thể chia thành 2 nhóm: nhu cầu vật chất, nhu cầu tinh thần. Nhu cầu vật chất: là nhu cầu tổng hợp về các yếu tố vật chất để con ngƣời tồn tại và phát triển trong một điều kiện môi trƣờng nhất định. 8 Nhu cầu tinh thần: là những yếu tố làm thỏa mãn về mặt tâm lý, tạo điều kiện để con ngƣời phát triển về mặt trí lực.
Nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh thần luôn có mối quan hệ khăng khít với nhau. Trong quá trình phân phối, yếu tố vật chất lại chứa đựng yếu tố tinh thần, những động lực về tinh thần đƣợc thể hiện qua vật chất thì có ý nghĩa hơn, cả hai yếu tố vật chất và tinh thần cùng lúc tồn tại trong bản thân ngƣời lao động. Trong quá trình tồn tại và phát triển, con ngƣời luôn ƣớc muốn, mong muốn vƣơn lên để đƣợc thỏa mãn các nhu cầu cá nhân, mức độ mong muốn các nhu cầu đƣợc thỏa mãn chính là lợi ích mong muốn. Lợi ích Lợi ích là mức độ thỏa mãn nhu cầu trong một điều kiện nhất định đƣợc thể hiện trƣớc, trong và sau quá trình lao động.
Mức độ thỏa mãn nhu cầu càng lớn thì lợi ích càng cao và ngƣợc lại [1]. Lợi ích chính là tất cả các giá trị vật chất và tinh thần mà ngƣời lao động nhận đƣợc từ tổ chức, mà biểu hiện chính là tiền lƣơng, tiền thƣởng, các phúc lợi và dịch vụ khác, điều kiện và môi trƣờng làm việc thuận lợi, việc làm ổn định cho ngƣời lao động. từ đó góp phần thoản mãn những nhu cầu của con ngƣời. Tƣơng ứng với nhu cầu vật chất thì có lợi ích vật chất và tƣơng ứng với nhu cầu tinh thần thì có lợi ích tinh thần.
Những lợi ích vật chất nhƣ tiền lƣơng, tiền thƣởng, các phúc lợi và dịch vụ… là những biểu hiện đảm bảo nhu cầu tồn tại và phát triển thể chất của con ngƣời. Còn những lợi ích tinh thần nhƣ điều kiện, môi trƣờng làm việc thuận lợi, việc làm ổn định, đƣợc tôn trọng, quan tâm… là những biểu hiện thỏa mãn nhu cầu tinh thần của con ngƣời. 9 Mối quan hệ giữa nhu cầu và lợi ích Nhu cầu và lợi ích có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, không có nhu cầu thì không có lợi ích, lợi ích là hình thức biểu hiện của nhu cầu và nhu cầu chính là nội dung của lợi ích. Khi nhu cầu xuất hiện, con ngƣời sẽ có hành động để thỏa mãn nhu cầu và kết quả của hành động đó là con ngƣời nhìn thấy lợi ích mà họ sẽ có đƣợc.
Lợi ích cái mà họ có đƣợc – chính là động lực quan trọng thúc đẩy ngƣời lao động làm việc. Lợi ích càng lớn thì động lực thúc đẩy con ngƣời hành động càng mạnh và ngƣợc lại lợi ích càng bé thì động lực sẽ yếu đi thậm chí bị triệt tiêu.