CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ TẠO ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CHO GIÁO VIÊN CÁC TRƯỜNG CÔNG LẬP 1.1 CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN 1.1 Động lực làm việc : Có những định nghĩa khác nhau về động lực và động lực làm việc. Theo từ điển tiếng Anh Longman, “Động lực là một động cơ có ý thức hoặc vô thức nhằm khơi dậy và hướng hành động vào việc đạt một mục tiêu mong đợi”. Theo quan niệm này thì khi nói đến động lực làm việc là nói đến các thúc đẩy, kích thích khác nhau khiến cho cá nhân làm việc. Các thúc đẩy đó có thể là: + Những gì thúc đẩy chúng ta làm điều đó.
+ Điều cần thiết khi chúng ta mong muốn đạt được một mục đích nào đó. + Sự khích lệ khiến ta cố gắng làm một điều gì đó. Như vậy, động lực làm việc là các thúc đẩy khác nhau khiến cho cá nhân làm việc. Những thúc đẩy này có thể ở dạng có ý thức hoặc vô thức, vì vậy không phải lúc nào chúng ta cũng biết rõ điều gì đã tạo động lực cho chúng ta.
Do đó, nhiều người biết nhưng rất khó định nghĩa, chỉ có thể đánh giá được qua cách thực hiện công việc. Theo cách nhìn của nhà quản trị thì biểu hiện của động lực làm việc là sự sẵn sàng nỗ lực say mê làm việc nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức cũng như của bản thân đề ra. Do đó, một người có động lực làm việc sẽ: + Làm việc tích cực. + Duy trì nhịp độ làm việc tích cực + Có hành vi tự định hướng vào các mục tiêu quan trọng.
Vì thế động lực phải kéo theo sự nỗ lực, sự kiên trì và mục đích. Nó đòi hỏi có sự khát khao, mong muốn và tự nguyện thực hiện của một người nào đó. 8 Dưới góc độ này, theo ThS. Nguyễn Vân Điềm và PGS.
TS Nguyễn Ngọc Quân thì, động lực làm việc nói một cách nôm na là sự dấn thân, sự sẵn lòng làm một công việc nào đó và khái quát hơn là sự khao khát và tự nguyện của con người, nhằm tăng cường mọi nỗ lực để đạt được mục tiêu, một kết quả cụ thể nào đó. Chúng xuất phát từ trong tiềm thức, lý trí của bản thân con người mong muốn được hành động, được thể hiện và được cống hiến. Động lực làm việc là kết quả của rất nhiều nguồn lực hoạt động đồng thời trong con người và trong môi trường sống và làm việc của con người. Do đó hành vi có động lực hay là hành vi được thúc đẩy, được khuyến khích trong tổ chức là kết quả tổng hợp của sự kết hợp tác động của nhiều yếu tố như: Bản thân công việc, các chính sách lương, thưởng và các khoản phúc lợi, công tác đánh giá thành tích, cũng như các chương trình đào tạo, cơ hội phát triển cho những nhân viên giỏi.
Các yếu tố thuộc về cá nhân con người lao động cũng đóng vai trò quan trọng trong việc tạo động lực làm việc cho chính họ, chẳng hạn như nhu cầu, mục đích, các quan niệm về giá trị.2 Tạo động lực làm việc Tạo động lực làm việc là phần quan trọng tiếp theo trong việc quản lý hiệu suất làm việc. Thực tế, việc này đóng vai trò chính yếu trong quản lý hiệu suất làm việc và là điều mà các nhà quản lý phải luôn quan tâm. Một tổ chức chỉ có thể đạt được năng suất lao động cao khi có những nhân viên làm việc tích cực và sáng tạo. Điều đó phụ thuộc vào cách thức và phương pháp mà những người quản lý sử dụng để tạo động lực làm việc cho nhân viên.
Tạo động lực làm việc là dẫn dắt nhân viên đạt được những mục tiêu đã đề ra với nỗ lực lớn nhất. Nó được hiểu là một hệ thống các hoạt động của nhà quản trị nhân sự nhằm duy trì và động viên, khích lệ người lao động làm việc. Hoạt động của cá nhân được thực hiện bởi những tác nhân khác nhau, tuy nhiên không phải mọi tác nhân với hoạt động đều là tác nhân tạo động lực. Nói 9 cách khác, cần có sự phân biệt điều gì tạo động lực và điều gì không phải là tác nhân tạo động lực đối với mỗi cá nhân.
Trong cùng một tình huống, những người khác nhau có thể sẽ ứng xử khác nhau. Sự khác biệt trong hành vi của con người bắt nguồn từ giá trị và thái độ của mỗi người đối với cuộc sống xung quanh. Khi nói đến giá trị, chúng ta nói đến những nguyên tắc hay chuẩn mực đạo đức, tinh thần mà chúng ta trân trọng, đặt niềm tin của mình vào đấy hoặc cho là quan trọng trong cuộc sống. Một số ví dụ về các giá trị thường gặp là: lòng can đảm, sự hiểu biết, quyết tâm và lòng nhân hậu… Thái độ là cách suy nghĩ, cách nhìn nhận và cảm xúc về sự vật.
Thái độ chịu sự chi phối của tập hợp các giá trị, lòng tin, những nguyên tắc mà một cá nhân tôn trọng, nhân sinh quan và thế giới quan được hình thành và tích luỹ trong quá trình sống và làm việc. Thái độ điều khiển hầu hết các hành vi của con người và khiến cho những người khác nhau có những hành vi khác nhau trước cùng một hiện tượng hay sự việc. Giá trị và thái độ của người này có thể khác xa với người khác.Trong một môi trường làm việc, tuỳ thuộc vào giá trị và thái độ của mình, mỗi cá nhân có thể coi trọng những yếu tố khác nhau là tác nhân tạo động lực hay triệt tiêu động lực trong môi trường làm việc của mình. Do đó, muốn tạo động lực cho ai làm việc gì đó chúng ta phải làm cho họ muốn làm công việc ấy chứ không phải bị buộc phải làm.Tạo động lực liên quan nhiều đến sự khích lệ , không thể là sự đe doạ hay dụ dỗ.
Vì vậy, tạo động lực cho người lao động là sự kích thích nhân lực trước khi họ bắt tay vào công việc, để họ tự nguyện làm việc cố gắng làm việc, làm nảy sinh lòng nhiệt tình đối với công việc và cổ vũ khen ngợi đối với nhân viên sau khi hoàn thành nhiệm vụ, khen ngợi thành tích của họ, cổ vũ cho họ tiếp tục cố gắng.3 Sự cần thiết tạo động lực làm việc 1.1 Đối với cá nhân Tạo động lực trong lao động có ý nghĩa rất lớn đối với tổ chức nói chung và người lao động nói riêng. Tạo động lực cho người lao động giúp cho người lao động có nhiều sáng kiến, sáng tạo trong công việc hơn. Điều này có ý nghĩa hết sức quan trọng không chỉ cho doanh nghiệp mà cho ngay bản thân người lao động. Người lao động làm việc một cách hăng say, nhiệt tình hơn và có hiệu quả, nâng cao năng suất lao động.
Đối với lao động mới sẽ giúp cho việc hòa nhập vào tổ chức doanh nghiệp dễ dàng hơn, rút ngắn thời gian lãng phí không cần thiết. Còn đối với lao động gắn bó lâu năm thì làm cho họ trở lên gắn bó với doanh nghiệp nhiều hơn, tạo ra các cơ hội khác cho bản thân như cơ hội thăng tiến trong nghề nghiệp. Nếu không có động lực thì người lao động làm việc theo một khuôn mẫu hay thậm chí làm theo kiểu “ép buộc”, điều này không những không mang lại hiệu quả làm việc mà có khi còn gây ra những tác hại tiêu cực không chỉ cho bản thân doanh nghiệp mà cho ngay chính bản thân người lao động như: lãnh đạo không tin tưởng, đồng nghiệp không vui vẻ, không có sự quan tâm lẫn nhau… 1.2 Đối với tổ chức Động lực làm việc quyết định hiệu suất làm việc của các cá nhân trong tổ chức. và Pringle (1982), hiệu suất làm việc của nhân viên phụ thuộc đồng thời vào ba yếu tố: - Năng lực của bản thân cá nhân đó, là khả năng của cá nhân đó trong thực hiện và giải quyết công việc.
Năng lực cũng bao gồm kiến thức, kỹ năng, hiểu biết và kinh nghiệm cho phép cá nhân hoàn thành công việc được giao. 11 - Nguồn lực, điều kiện để thực thi công việc, gồm: công cụ, trang thiết bị, nguyên vật liệu, sự hỗ trợ, cơ chế… để cá nhân có thể phát huy được năng lực của mình. Nói cách khác, cá nhân cần có điều kiện để “có thể làm” công việc đó. - Động lực làm việc: cá nhân phải mong muốn đạt kết quả cao trong công việc.
Nói cách khác, cá nhân cần “muốn làm” công việc đó với kết quả cao. Để cá nhân có được kết quả làm việc cao, cần hội đủ ba yếu tố này. Nếu một trong ba yếu tố này không được đảm bảo, sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến kết quả làm việc của cá nhân và nhóm làm việc. Cụ thể hơn, Ahlstrom/ Bruton,2009,p.198 đã đưa ra công thức về hiệu suất làm việc như sau [ 26, tr 123 ]: P = A x R x Mx E trong đó: P: Hiệu suất làm việc (Performance) A: Khả năng /năng lực làm việc (Ability) R: Nguồn lực (Resources) M: Động lực/động cơ làm việc (Motivation).
E : Môi trường ( Environment) Công thức này cho thấy tầm quan trọng của động lực làm việc đối với kết quả làm việc của mỗi cá nhân trong tổ chức và ảnh hưởng đến hiệu suất làm việc của cả tổ chức. Nếu động lực làm việc bằng 0 thì một người dù có khả năng làm việc tốt và có đầy đủ nguồn lực cũng có thể không thực hiện được mục 12 tiêu. Một người có động lực làm việc cao có thể đạt hiệu suất làm việc như mong đợi, kể cả khi người đó hạn chế về kiến thức, kỹ năng. Động lực làm việc là cơ sở đem lại sự sáng tạo trong tổ chức.
Nhiều nghiên cứu đã chứng minh, người có động lực làm việc thường cảm thấy thoải mái và say mê với nhiệm vụ được giao. Chính vì vậy, họ luôn thể hiện tính sáng tạo trong công việc, từ đó giúp tổ chức có thêm những ý tưởng sáng tạo, đổi mới, tạo ra sự đột phá trong tổ chức, giúp tổ chức thích ứng được với những thay đổi và chủ động tạo ra những thay đổi. Động lực làm việc giúp giảm thiểu những vấn đề có tác động tiêu cực nảy sinh trong hoạt động của tổ chức.Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng khi người lao động có động lực làm việc thì tai nạn nghề nghiệp ít xảy ra hơn, các vấn đề vi phạm đạo đức, bỏ việc hoặc tỉ lệ vi phạm kỷ luật cũng ít hơn. Người có động lực làm việc ít bị bệnh trầm cảm và thường có sức khoẻ về thể chất và tinh thần tốt.