CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐỘNG LỰC VÀ TẠO ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CHO GIẢNG VIÊN 1. Lý luận chung về động lực và tạo động lực làm việc 1. Khái niệm về động lực Theo từ điển tiếng Việt, động lực là: Cái thúc đẩy, làm cho phát triển. Trên thực tế có rất nhiều khái niệm về động lực làm việc nhưng nội hàm của chúng đều hướng tới sự khao khát và tự nguyện nỗ lực làm việc của người lao động.
Động lực là trạng thái nội tại của con người để hướng dẫn và chỉ đạo hành vi của con người hướng tới sự thỏa mãn, đó là một chuỗi các nhu cầu, khuynh hướng, ham muốn, kích thích và khiến người đó thực hiện một hành vi nào đó một cách tích cực nhất. Động lực làm việc là vấn đề được khá nhiều nhà nghiên cứu đề cập từ các phương diện khác nhau. Theo Kleinginna & Kleinginna (1981), đã có ít nhất 140 định nghĩa khác nhau về động lực làm việc. - Từ góc độ tâm lý học, động lực làm việc được hiểu là cái thúc đẩy hành động, gắn liền với việc thỏa mãn những nhu cầu của chủ thể, có khả năng khơi dậy tính tích cực lao động của con người.
- Từ góc độ quản trị thì động lực làm việc chính là sự khao khát và tự nguyện của cá nhân nhằm phát huy và hướng nỗ lực của bản thân để đạt được các mục tiêu cá nhân và mục tiêu của tổ chức. Dựa trên quan điểm của các nhà khoa học trong và ngoài nước: - Theo Kreitner: “Động lực là quá trình tâm lý có mục đích cho hành vi và hướng của hành vi” [17]. - Theo Mitchel: “Động lực là một mức độ mà một cá nhân muốn đạt tới và lựa chọn để gắn kết các hành vi của mình” [18]. 15 - Theo Buford J A, Bedeian A G và Lindner J R: “Động lực là khuynh hướng cư xử một cách có chủ đích để đạt được những nhu cầu chưa được đáp ứng cụ thể” [19].
- Theo Donelly và cộng sự: “Động lực là tất cả các điều kiện giúp bản thân đạt được mong muốn” [20]. - Theo giáo trình Quản trị nhân lực của tác giả Nguyễn Vân Điềm - Nguyễn Ngọc Quân “Động lực lao động là sự khao khát, tự nguyện của người lao động để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới một mục tiêu, kết quả nào đó” [21]. - Giáo trình Quản trị học của TS.Đoàn Thị Thu Hà và TS. Nguyễn Thị Ngọc Huyền: “Động lực là sự sẵn sàng sử dụng mọi nỗ lực cao để đạt mục tiêu của tổ chức, bị ảnh hưởng bởi khả năng thoả mãn nhu cầu cá nhân của nỗ lực đó” [22].
- Theo giáo trình hành vi tổ chức của tác giả Bùi Anh Tuấn, Phạm Thúy Hương: “Động lực lao động là những nhân tố bên trong kích thích con người tích cực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao. Biểu hiện của động lực là sự sẵn sàng, nỗ lực, say mê làm việc nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức cũng như bản thân người lao động” [23]. Như vậy, mặc dù có nhiều các tiếp cận và quan niệm về động lực làm việc khác nhau, nhưng khi nghiên cứu về động lực cần thống nhất một số điểm sau đây: Động lực làm việc được thể hiện thông qua thái độ của người lao động đối với tổ chức, đơn vị của họ. Mỗi người lao động đảm nhận những công việc khác nhau và mỗi cá nhân có những động lực khác nhau thúc đẩy họ làm việc tích cực hơn.
Động lực làm việc được gắn liền với một công việc, một tổ chức và một môi trường làm việc cụ thể. Tuy nhiên, kết quả công việc không phụ thuộc hoàn toàn vào động lực làm việc mà còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khách quan khác. Động lực làm việc chỉ là một trong nhiều yếu tố quyết định đến kết quả công việc. 16 Động lực làm việc mang tính tự nguyện, phụ thuộc chủ yếu vào chính người lao động, khi làm việc một cách chủ động và tự nguyện thì kết quả công việc sẽ đạt cao nhất.
Chính vì vậy, nhà quản lý bằng cách thức nào đó tác động đến người lao động để họ nỗ lực nhiều hơn trong công việc. Từ những khái niệm khác nhau, tác giả luận văn cho rằng: Động lực làm việc là những yếu tố thúc đẩy, kích thích, làm cho cá nhân mong muốn, tự nguyện, và nỗ lực làm việc để đạt được những mục tiêu của cá nhân, tổ chức. Khái niệm về tạo động lực làm việc Động lực làm việc là một yếu tố quan trọng quyết định kết quả công việc. Do đó, các nhà quản lý phải chủ động dùng nhiều phương thức khác nhau để khuyến khích người lao động nỗ lực hết mình, sáng tạo, hoàn thành công việc với kết quả tốt nhất có thể.
Khuyến khích bằng nhiều hình thức khác nhau, cả vật chất lẫn tinh thần. Tạo động lực làm việc chính là tạo ra sự lôi cuốn trong công việc, mong muốn được làm việc, khi đó người lao động sẽ làm việc một cách tự nguyện, hăng say để đạt được mong muốn, nguyện vọng của cá nhân và từ đó gắn bó với tổ chức. Theo Giáo trình Quản trị kinh doanh, NXB Lao động xã hội, Hà Nội – 2004, của tác giả Nguyễn Thành Độ và tác giả Nguyễn Ngọc Huyền thì: “Tạo động lực cho người lao động là tổng hợp các biện pháp quản lý nhằm tạo ra các động lực vật chất (thù lao lao động) và tinh thần cho người lao động” [24]. Theo giáo trình Quản trị nhân lực trong doanh nghiệp, NXB Thống kê, Hà Nội- 2008, của tác giả Hà Văn Hội: “Tạo động lực là hệ thống các phương pháp, chính sách, thủ thuật của nhà quản lý tác động đến người lao động” [25].
Từ những phân tích trên, theo tác giả luận văn: Tạo động lực làm việc là tổng hợp các phương thức mà nhà quản lý tác động đến người lao động để khuyến khích, động viên người lao động nỗ lực làm việc nhằm đạt được các mục tiêu của tổ chức đề ra. Một số học thuyết về tạo động lực làm việc 1. Học thuyết nhu cầu của Abraham Maslow - Abraham Maslow là nhà khoa học xã hội nổi tiếng đã xây dựng học thuyết về nhu cầu của con người vào những năm 1950. Lý thuyết của ông nhằm giải thích những nhu cầu nhất định của con người cần được đáp ứng như thế nào để một cá nhân hướng đến cuộc sống lành mạnh và có ích về cả thể chất lẫn tinh thần.
Lý thuyết của ông giúp cho sự hiểu biết của chúng ta về những nhu cầu của con người bằng cách nhận diện một hệ thống thứ bậc các nhu cầu. Ông đã đem lại các loại nhu cầu khác nhau của con người, căn cứ theo tính đòi hỏi của nó và thứ tự phát sinh trước sau của chúng để quy về 5 loại sắp xếp thành thang bậc về nhu cầu của con người từ thấp đến cao.1 Tháp nhu cầu của Abraham Maslow Tầng 1. Nhu cầu sinh lý: là yêu cầu vật lý chính cho sự sống còn của con người. Nhu cầu sinh lý được xem xét từ động lực bên trong của con người theo hệ thống nhu cầu của Maslow.
Lý thuyết này nói rằng: con người buộc phải đáp ứng những nhu cầu sinh lý này trước tiên để theo đuổi sự thỏa mãn ở mức độ 18 cao hơn. Nếu những nhu cầu này không được đáp ứng, nó sẽ dẫn đến sự gia tăng sự bất mãn trong một cá nhân. Nhu cầu sinh lý có thể được định nghĩa dựa trên đặc điểm và trạng thái. Nhu cầu sinh lý như những đặc điểm ám chỉ đến nhu cầu lâu dài, không thay đổi được, đó là những yêu cầu của cuộc sống cơ bản của con người như: ăn, uống, ngủ, không khí để thở, các nhu cầu làm cho con người thoải mái,….
Nhu cầu sinh lý như một trạng thái ám chỉ sự giảm khoái cảm và sự gia tăng cho một động lực để thực hiện một điều cần thiết. Để theo đuổi động lực nội tại ở thứ bậc cao của Maslow, trước tiên phải đáp ứng nhu cầu sinh lý. Hiểu một cách cơ bản nhất, đối với người lao động nhu cầu này là được đáp ứng những yêu cầu cơ bản để đảm bảo sức khỏe để làm việc và tái tạo sức lao động. Nhu cầu này thường gắng với thu nhập của người lao động.
Nhu cầu về an toàn: Nhu cầu an toàn là việc giữ cho chúng ta an toàn, khỏi bị tổn hại. Chúng bao gồm nơi trú ẩn, an ninh công việc, sức khỏe và môi trường an toàn. Điều này có nghĩa là khi người lao động tham gia vào một tổ chức, người lao động luôn mong muốn có được môi trường lao động ổn định, bảo đảm an toàn cả về thể chất lẫn tinh thần. Nếu một người không cảm thấy an toàn trong môi trường của họ, họ sẽ cố gắng tìm sự an toàn trước khi họ cố gắng đáp ứng bất kỳ mức sống nào cao hơn, nhưng nhu cầu an toàn không quan trọng bằng nhu cầu sinh lý cơ bản.
Thông qua việc nghiên cứu hai cấp bậc nhu cầu trên, chúng ta thấy rằng: Muốn một người phát triển ở mức độ cao thì phải đáp ứng các nhu cầu bậc thấp của họ trước: đồng lương tốt, chế độ đãi ngộ hợp lý, nhà cửa ổn định,… Tầng 3. Nhu cầu về xã hội: theo Maslow, con người sở hữu một nhu cầu tình cảm về cảm giác muốn được thuộc về và chấp nhận trong một nhóm xã hội nào đó dù lớn hay nhỏ. Ví dụ, những nhóm lớn bao gồm các câu lạc bộ, đồng nghiệp, tôn giáo, tổ chức chuyên nghiệp, đội thể thao, băng đảng, cộng đồng trực tuyến. Một số ví dụ về các kết nối xã hội nhỏ bao gồm các thành viên gia 19 đình, đối tác thân mật, cố vấn, đồng nghiệp….Nhu cầu này bắt nguồn từ những tình cảm của con người đối với sự lo sợ bị cô độc, bị coi thường, bị buồn chán, mong muốn được hòa nhập, lòng tin, lòng trung thành giữa con người với nhau.
Nội dung của nhu cầu này phong phú, tế nhị, phức tạp. Bao gồm các vấn đề tâm lý như: Được dư luận xã hội thừa nhận, sự gần gũi, thân cận, tán thưởng, ủng hộ, mong muốn được hòa nhập, lòng thương, tình yêu, tình bạn, tình thân ái là nội dung dung lý tưởng mà nhu cầu về quan hệ và được thừa nhận luôn theo đuổi. Nó thể hiện tầm quan trọng của tình cảm con người trong quá trình phát triển của nhân loại. Nhu cầu được quý trọng: khi con người bắt đầu thỏa mãn nhu cầu được chấp nhận là thành viên trong xã hội thì họ có xu thế tự trọng và muốn được người khác tôn trọng.