CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TẠO ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CHO ĐỘI NGŨ CÔNG CHỨC CẤP CƠ SỞ 1. Cơ sở pháp lý - Bộ luật Lao động số 45/2019/QH14 ngày 20/11/2019; - Luật Cán bộ, CC ngày 13/11/2008; - Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cán bộ, CC và Luật viên chức số 52/2019/QH14 ngày 25/11/2019; - Nghị định số 138/2020/NĐ-CP ngày 27/11/2020 của Chính phủ quy định về tuyển dụng, sử dụng và quản lý CC; - Nghị định số 89/2021/NĐ-CP ngày 18/10/2021 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 107/2017/NĐ-CP ngày 01/9/2017 của Chính phủ về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức; - Nghị định số 24/2023/NĐ-CP ngày 14/5/2023 của Chính phủ quy định mức lương cơ sở đối với cán bộ, CC, viên chức và lực lượng vũ trang; - Nghị định số 48/2023/NĐ-CP của Chính phủ ngày 17/7/2023 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 90/2020/NĐ-CP ngày 13/8/2020 về đánh giá, xếp loại chất lượng cán bộ, CC, viên chức. Cơ sở khoa học 1. Tổng quan về tạo động lực làm việc cho đội ngũ công chức cấp cơ sở 1.
Một số khái niệm cơ bản * Khái niệm công chức, đội ngũ công chức “Khái niệm công chức được quy định tại Điều 4 của Luật Cán bộ CC và Khoản 1 Điều 1 của Luật số 52/2019/QH14 của Quốc hội. Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng vào ngạch, chức vụ, chức danh phù hợp với vị trí làm việc trong cơ quan của Đảng, NN, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong các đơn vị quân đội không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong các đơn vị 4 Công an nhân dân không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan phục vụ theo chế độ chuyên nghiệp, công nhân công an, trong biên chế, hưởng lương từ NSNN. Trong một tổ chức không thể chỉ có một người mà khi nói tới tổ chức là sẽ nghĩ ngay tới đơn vị, cơ quan có ít nhất từ 2 -3 người trở lên. Đội ngũ là tập hợp của nhiều người có cùng chức năng, nhiệm vụ hoặc nghề nghiệp, hợp thành lực lượng hoạt động trong hệ thống (tổ chức) và cùng mục đích nhất định.
Đội ngũ là một tập thể các cá nhân liên kết với nhau, hợp thành một đội để thực hiện một hoặc nhiều nhiệm vụ; họ có thể có hoặc không cùng nghề nghiệp nhưng đều có cùng lý tưởng, mục đích và tinh thần đồng đều, cũng như kết nối với nhau về quyền lợi vật chất và tinh thần” [1]. Vì vậy, ĐNCC là một nhóm các công chức trong các cơ quan, tổ chức của một hệ thống cơ quan cơ sở, trong hệ thống hành chính NN, cùng thực hiện chức năng nhiệm vụ của các CC để hoàn thành nhiệm vụ chung. * Khái niệm động lực làm việc Theo Nguyễn Vân Điềm và Nguyễn Ngọc Quân: “Động lực làm việc là sự khao khát, tự nguyện của NLĐ để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới một mục tiêu, kết quả nào đó”. [14] Theo Lê Thanh Hà, Giáo trình Quản trị nhân lực – Nhà xuất bản Lao động xã hội: “Động lực làm việc là sự khao khát, tự nguyện của NLĐ để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới một mục tiêu, kết quả nào đó”.
[6] Như vậy có thể thấy, các tác giả đều nhận định rằng: muốn đạt được kết quả hay mục tiêu nào đó đặt ra thì cần có sự khao khát từ chính bản thân NLĐ và NLĐ tự nguyện hết mình để có thể đạt được điều đó. Động lực làm việc là những nhân tố bên trong kích thích con người làm việc nỗ lực trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất hiệu quả cao. Biểu hiện của động lực là sự sẵn sàng nỗ lực say mê làm việc nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức cũng như của bản thân NLĐ. Có thể thấy: Động lực làm việc là những nhân tố bên trong kích thích bản thân mỗi cá nhân nỗ lực làm việc với 5 sự khao khát và tự nguyện để đạt được các mục tiêu của bản thân và mục tiêu của DN.
* Khái niệm tạo động lực làm việc Để có được động lực làm việc, đẩy mạnh, nâng cao động lực làm việc thì cần có những hành động, những yếu tố tác động nhằm TĐL làm việc. Theo Lê Thanh Hà: “Tạo động lực làm việc là tổ hợp các giải pháp cách cư xử của tổ chức, nhà quản lý để tạo ra sự tự nguyện, khát khao của NLĐ từ đó NLĐ sẽ nỗ lực, cố gắng làm việc nhằm đạt được mục tiêu của cá nhân họ đặt ra và mục tiêu chung của tổ chức” [6]. Các giải pháp có thể chia thành nhiều khía cạnh ví dụ như kích thích đòn bẩy về tài chính, phi tài chính, cách hành xử của DN… Như vậy, muốn đạt được hiệu quả cao trong SXKD thì các nhà quản lý DN cần dựa vào các yếu tố về vật chất hoặc tinh thần hoặc cả vật chất và tinh thần để có thể thúc đẩy NLĐ cống hiến hết mình cho công việc, cho DN. Tạo động lực làm việc được hiểu là hệ thống các chính sách, biện pháp, thủ thuật quản lý tác động đến NLĐ nhằm làm cho NLĐ có động lực trong công việc.
Tạo động lực làm việc cho NLĐ là trách nhiệm và mục tiêu của quản lý. Một khi NLĐ có động lực làm việc thì sẽ tạo ra khả năng tiềm năng nâng cao NSLĐ và hiệu quả công tác. Điều này cho thấy, khi NLĐ được TĐL thì có thể sẽ sản sinh ra nhiều khả năng đặc biệt, khả năng vượt qua bản thân, vượt qua những gì mà NLĐ đang hiện hữu để có thể đạt được điều mà NLĐ mong muốn. Như vậy, TĐL làm việc cho NLĐ là hệ thống các biện pháp, chính sách, cách ứng xử của DN tác động đến NLĐ nhằm làm cho NLĐ có động lực làm việc trong công việc, thúc đẩy họ thực hiện tốt hơn với công việc và nỗ lực phấn đấu để đạt được các mục tiêu của bản thân và DN đặt ra.
* Khái niệm TĐL làm việc cho ĐNCC cấp cơ sở Tạo động lực làm việc cho ĐNCC cấp cơ sở là quá trình thiết lập và duy trì các yếu tố nhằm khuyến khích, thúc đẩy ĐNCC tại các cơ quan, đơn vị 6 hành chính cấp cơ sở (như xã, phường, thị trấn) làm việc hiệu quả, năng suất và gắn bó hơn với công việc. Việc tạo động lực ở cấp cơ sở cần phải tính đến đặc thù của môi trường làm việc công vụ, các chính sách công, cũng như điều kiện KTXH của địa phương. Một số điểm khác biệt chính: - Môi trường làm việc và điều kiện cơ sở hạ tầng: Công chức cấp cơ sở thường làm việc trong điều kiện cơ sở hạ tầng hạn chế hơn so với các cấp cao hơn. Vì vậy, việc TĐL cần phải cân nhắc đến việc cải thiện điều kiện làm việc như trang bị thiết bị, công nghệ, cải thiện môi trường làm việc.
- Tính chất công việc: Công việc tại cấp cơ sở thường liên quan trực tiếp đến người dân và có tính chất phục vụ cao. Điều này đòi hỏi công chức cấp cơ sở phải có động lực làm việc vì sự hài lòng của cộng đồng và sự phát triển của địa phương, hơn là chỉ vì lợi ích cá nhân. - Chính sách khen thưởng và phúc lợi: Chính sách khen thưởng và phúc lợi cho công chức cấp cơ sở cần phải linh hoạt và phù hợp với thực tế tại địa phương. Các hình thức khen thưởng có thể không chỉ là tiền thưởng mà còn có thể là các hình thức công nhận từ cộng đồng hoặc các cơ quan cấp trên.
- Cơ hội phát triển nghề nghiệp: Công chức cấp cơ sở có ít cơ hội thăng tiến hơn so với các cấp cao hơn. Do đó, việc TĐL cần phải tập trung vào việc cung cấp cơ hội học tập, đào tạo, phát triển kỹ năng để giúp họ nâng cao năng lực chuyên môn và cảm thấy công việc của mình có giá trị. - Sự hỗ trợ từ lãnh đạo và đồng nghiệp: Ở cấp cơ sở, sự gần gũi và hỗ trợ từ lãnh đạo trực tiếp và đồng nghiệp có vai trò quan trọng trong việc tạo động lực. Sự quan tâm, hướng dẫn từ cấp trên và tinh thần đoàn kết trong tập thể có thể giúp công chức vượt qua khó khăn và duy trì động lực làm việc.
- Tính tự chủ trong công việc: Công chức cấp cơ sở thường phải đối mặt với những tình huống phức tạp, đòi hỏi sự linh hoạt và sáng tạo trong giải quyết vấn đề. Việc trao quyền tự chủ và khuyến khích sáng kiến cá nhân có thể là một yếu tố quan trọng trong việc TĐL. 7 - Tác động từ cộng đồng: Công việc của công chức cấp cơ sở có sự tương tác lớn với cộng đồng, động lực làm việc của họ có thể đến từ sự phản hồi tích cực của người dân và cảm giác đóng góp vào sự phát triển của địa phương. Việc hiểu rõ và áp dụng đúng các yếu tố trên sẽ giúp tăng cường hiệu quả trong việc TĐL cho công chức cấp cơ sở, từ đó nâng cao chất lượng phục vụ và đóng góp vào sự phát triển của địa phương.
Vai trò tạo động lực làm việc cho đội ngũ công chức cấp cơ sở Một là, đối với ĐNCC, động lực làm việc tại các cơ quan, đơn vị NN mang lại định hướng được những công việc, mục tiêu cần phải đạt được. Đồng thời chính động lực làm việc cho ĐNCC đạt được điều đó một cách dễ dàng hơn trong niềm đam mê và hăng say công việc. Đội ngũ CC là giúp việc cho cơ quan NN vì vậy với các quan điểm, tư tưởng tốt thì sẽ giúp làm việc hiệu quả và ngược lại. Hai là, TĐL làm việc cho ĐNCC góp phần đảm bảo chất lượng công việc, liên quan chặt chẽ đến những yếu tố về thái độ của ĐNCC mà thái độ của một cá nhân thì có tác dụng quyết định mức độ dấn thân và đóng góp của người đó đối với tổ chức, với xã hội.
Với tinh thần hăng say làm việc, cống hiến với công việc hết mình sẽ mang lại hiệu quả cao trong công việc, tạo ra nguồn thu nhập tốt, ổn định cuộc sống của ĐNCC. Vì vậy, TĐL cho ĐNCC giúp kích thích làm việc, nỗ lực cố gắng và phấn đấu để đạt được mục tiêu của bản thân. Thứ ba, TĐL làm việc cho ĐNCC đem lại những đóng góp tích cực cho sự thỏa mãn, toại nguyện của ĐNCC về công việc và từ đó khuyến khích ĐNCC gắn bó với công việc và sẵn sàng cống hiến hết mình.