CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT TẠO ĐỘNG LỰC CHO NGUỒN NHÂN LỰC 1. Cơ sở lý luận chung 1. Khái niệm và tầm quan trọng của nguồn nhân lực trong doanh nghiệp? 1. Khái niệm Khái niệm về nhân lực: Bao gồm tất cả các tiềm năng của con người trong một tổ chức hay xã hội (kể cả những thành viên trong ban lãnh đạo doanh nghiệp) tức là tất cả các thành viên trong doanh nghiệp sử dụng kiến thức, khả năng, hành vi ứng xử và giá trị đạo đức để thành lập, duy trì và phát triển doanh nghiệp.
Tầm quan trọng của nguồn nhân lực trong doanh nghiệp. Nhân viên giống như điểm tựa của đòn bẩy Điều này có lẽ khiến bạn ngạc nhiên, vì quan tâm hàng đầu của mọi doanh nghiệp tập trung vào việc làm cách nào để tăng doanh số bán hàng, nhưng thực tế, những doanh nghiệp thành công đều bắt đầu từ những nhân viên giỏi, những người có thể thu hút được khách hàng đến với công ty. Nhân viên giống như điểm tựa của đòn bẩy - họ có thể gây ảnh hưởng lớn đến doanh số bán hàng và khả năng sinh lợi nhuận, cả mặt tích cực lẫn tiêu cực. Một nhân viên giỏi có thể thu hút được 100 khách hàng.
Ngược lại, một nhân viên tồi có thể khiến 100 khách hàng bỏ đi. Nếu điều đó xảy ra, có thể thay thế bằng 10 nhân viên giỏi hoặc tìm lại những khách hàng đã mất. Để minh hoạ, có thể hình dung sau khi bạn nhận được sự phục vụ tồi tệ từ một người bán hàng. Không chỉ bản thân sẽ không quay trở lại cửa hàng đó mà bạn còn kể lại cho những người khác về câu chuyện tồi tệ đó và họ có thể cũng không mua gì của người bán hàng đó nữa.
Đó là một ví dụ về việc một nhân viên tồi có thể làm mất khách hàng như thế nào. Tuy nhiên, khi bạn nhận được sự phục vụ tốt thì sẽ quay trở lại và tiếp tục mua hàng ở đó. Bạn cũng kể cho bạn bè và họ cũng có thể sẽ đến mua hàng ở đó. xvi Đó chính là tác dụng của đòn bẩy trong hành động.
Ngoài ra, những khách hàng đang ở trong cửa hiệu nhìn thấy người khác mua hàng thì bản thân họ cũng cảm thấy muốn mua. Động lực lao động 1. Khái niệm "Năng suất làm việc = năng lực + động lực làm việc". Theo ý kiến của các chuyên gia Trung tâm đào tạo INPRO và những người làm Nghề nhân sự thì đối với nguồn nhân lực tại Việt Nam, tỷ lệ trong phép toán này luôn là: động lực lớn hơn năng lực.
"Động lực là động cơ mạnh, thúc đẩy con người hoạt động một cách tích cực có năng suất, chất lượng, hiệu quả, khả năng thích nghi cao, sáng tạo cao nhất với tiềm năng của họ ". Động lực là động cơ thúc đẩy tất cả các hành động của con người. Đây là một trạng thái nội tại, cung cấp sinh lực và hướng con người vào những hành vi có mục đích. Nền tảng của động lực là các cảm xúc, mà cụ thể, nó dựa trên sự né tránh, những trải nghiệm cảm xúc tiêu cực và tìm kiếm những cảm xúc tích cực.
Theo giáo trình hành vi tổ chức của TS Bùi Anh Tuấn “Động lực lao động là những nhân tố bên trong kích thích con người tích cực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao. Biểu hiện của động lực là sự sẵn sàng, nỗ lưc, say mê làm việc nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức cũng như bản thân người lao động”. Mục đích và vai trò của việc tạo động lực Mục đích của việc tạo động lực cho NLĐ: - Góp phần giúp nâng cao hiệu quả công việc cho NLĐ, đồng thời nâng cao hiệu suất kinh doanh của doanh nghiệp. - Giúp NLĐ ngày càng gắn bó, tình nguyện làm việc lâu dài hơn với tổ chức.
- Giúp kích thích tiềm lực nội tại của nhân viên, khám phá ra những khả năng tiềm ẩn, phát huy tính sáng tạo, các mặt tích cực trong công việc của họ, từ đó giúp tổ chức thực hiện được các mục tiêu của mình. Vai trò của việc tạo động lực cho người lao động: xvii - Đối với người lao động Tạo động lực có thể giúp người lao động tự hoàn thiện được bản thân. Khi có được động lực lao động thì người lao động sẽ nỗ lực nhiều hơn trong công việc. Ngoài ra còn giúp người lao động yêu và thích công việc của mình hơn, găn bó lâu dài với tổ chức.
- Đối với doanh nghiệp Một tổ chức chỉ có thể đạt được năng suất lao động và hiệu quả công việc cao khi có những nhân viên làm việc tích cực và sáng tạo. Vì thế người quản lý cần hiểu rõ mỗi người lao động đang cần cái gì; cái gì đang động viên khuyến khích người lao động; và biện pháp nào thích ứng trong quản lý để đạt hiệu quả cao, để từ đó tìm được những biện pháp tạo kích thích cho người lao động. Tạo động lực lao động làm tăng năng suất của lao động từ đó tăng sản lượng, tiết kiệm chi phí, hạ giá thành sản phẩm quyết định cho sự phát triển của tổ chức. - Đối với xã hội Tạo động lực lao động là điều kiện để tăng năng suất lao động của cá nhân cũng như tổ chức.
Mà năng suất lao động tăng làm cho của cải vật chất tạo ra cho xã hội ngày càng nhiều và do vậy nền kinh tế có sự tăng trưởng. Tăng trưởng kinh tế là điều kiện cho sự phát triển kinh tế, giúp con người có điều kiện thỏa mãn những nhu cầu của mình ngày càng đa dạng, phong phú. Tạo động lực lao động gián tiếp xây dựng xã hội ngày một phồn vinh hơn dựa trên sự phát triển của các tổ chức kinh doanh. Lý thuyết chung về tạo động lực lao động 1.
Nhu cầu "Nhu cầu là trạng thái tâm lý mà con người cảm thấy thiếu thốn không thoả mãn về một cái gì đó và mong được đáp ứng nó" Nhu cầu gắn liền với sự tồn tại và phát triển của con người cũng như cộng đồng và tập thể xã hội. Hệ thống nhu cầu rất phong phú và đa dạng, gồm có nhiều loại nhu cầu: nhu cầu sinh lý, nhu cầu về lao động, về an ninh, tình cảm, nhu cầu được kính trọng (quyền lực, địa vị xã hội, uy tín, mức ảnh hưởng tới xã hội, sự giàu có.), nhu cầu thẩm mĩ (cái đẹp, cái tốt, cái thiện. xviii Như vậy, hệ thống nhu cầu của con người hết sức phức tạp, song cơ bản nó được chia thành 3 nhóm nhu cầu chính là: Nhu cầu vật chất Nhu cầu tinh thần Nhu cầu xã hội Nhu cầu của con người luôn luôn biến đổi,với mỗi người cụ thể khác nhau trong xã hội, việc thực hiện các nhu cầu cũng rất khác nhau tuỳ theo quan điểm của từng cá nhân. Nhưng nhìn chung,để thoả mãn tất cả các nhu cầu là hết sức khó khăn, chỉ có thể thoả mãn một hoặc một số nhu cầu nào đó trong từng giai đoạn khác nhau của cuộc đời.
Động cơ " Động cơ là mục đích chủ quan của hoạt động của con người (cộng đồng, tập thể, xã hội), là động lực thúc đẩy con người hành động nhằm đáp ứng các nhu cầu đặt ra" Như vậy,động cơ là lý do hành động của con người, nghĩa là khi chúng ta cố gắng để trả lời câu hỏi: Tại sao người này lại hành động thế này mà không phải thế khác, đó chính là nhằm xác định động cơ của người đó. Vì động cơ và động lực xuất phát từ chính bản thân con người ,nên nhà quản trịchủ yếu cần tạo điều kiện làm xuất hiện động cơ và nâng cao động lực của con người. Mối quan hệ giữa nhu cầu và động cơ Để xác định mối quan hệ giữa động cơ, động lực với nhu cầu, ta xem xét mô hình sau về mối quan hệ: Nhu cầu - động cơ- hành động - kết quả Động cơ Hành động Kết quả Động lực Nhu cầu Thỏa mãn Như vậy, mô hình này đề cập đến nguyên nhân, kết quả lẫn quá trình dẫn đến kết quả của việc tạo động lực cho người lao động. Mô hình chỉ ra rằng: Hệ xix thống nhu cầu chính là cơ sở quan trọng tạo nên động cơ và động lực của con người.
Động lực được hình thành sẽ biến thành hành động cụ thể và điều này sẽ đem lại kết quả tất yếu.Tất cả quá trình này từ lúc xuất phát là nhu cầu của chính con người cho đến khi đạt được kết quả mong đợi, suy cho cùng cũng là để thoả mãn các nhu cầu của chính họ.Và sau khi các nhu cầu này đã được thoả mãn thì tức khắc sẽ xuất hiện các nhu cầu mới ở bậc cao hơn,và cứ tiếp diễn như vậy không ngừng theo một vòng tuần hoàn được miêu tả như trong sơ đồ trên. Một số học thuyết về tạo động lực lao động 1. Hệ thống nhu cầu của Maslow Nội dung cơ bản của học thuyết: Thông thường hành vi của con người tại một thời điểm nào đó quyết định bởi nhu cầu mạnh nhất của họ. Maslow cho rằng con người có rất nhiều nhu cầu khác nhau mà họ khao khát được thỏa mãn.
Theo Maslow, nhu cầu của con người có sự phân cấp từ nhu cầu thấp nhất đến nhu cầu cao nhất. Khi một nhóm các nhu cầu được thỏa mãn thì loại nhu cầu này không còn là động cơ thúc đẩy nữa. Maslow chia các nhu cầu thành năm loại và sắp xếp theo thứ tự tăng dần: Hình 1. Tháp nhu cầu của Maslow Nhu cầu tự hoàn thiện Nhu cầu được tôn trọng Nhu cầu xã hội Nhu cầu an toàn Nhu cầu sinh lý - Nhu cầu sinh lý: bao gồm ăn mặc, ở, đi lại và các nhu cầu thể xác khác.
- Nhu cầu an toàn: bao gồm an ninh và bảo vệ khỏi những nguy hại về thể chất và tình cảm xx - Nhu cầu xã hội: bao gồm tình thương, cảm giác trực thuộc, được chấp nhận và tình bạn. - Nhu cầu được tôn trọng: bao gồm các yếu tố bên trong như tự trọng, tự chủ, thành tựu và các yếu tố bên ngoài như địa vị, được công nhận và chú ý. - Nhu cầu tự khẳng định mình: động cơ trở thành những gì mà ta có khả năng; bao gồm sự tiến bộ, đạt được tiềm lực của mình và tự tiến hành công việc. Vận dụng học thuyết vào vấn đề tạo động lực lao động: Cần nghiên cứu để biết được NLĐ, tập thể NLĐ đang ở đâu trong thứ bậc nhu cầu.