phần mở đầu, kết luận, phụ lục, danh mục bảng biểu, tài liệu tham khảo thì nội dung ch nh được chia thành 3 chương: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về công tác tạo động lực lao động trong doanh nghiệp. Chƣơng 2:Thực trạng công tác tạo động lực cho người lao động tại Công ty cổ phần Cơ điện và Xây dựng Việt Nam. Chƣơng 3: Giải pháp tạo động lực cho người lao động tại Công ty Cổ phần Cơ điện và Xây dựng Việt Nam. 6 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ Ý UẬN VỀ CÔNG TÁC TẠO ĐỘNG ỰC LAO ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP 1.
Một số khái niệm cơ bản 1. Nhu cầu và thỏa mãn nhu cầu Trong một tổ chức, bất kỳ người lao động nào khi tham gia hoạt động trong tổ chức cũng đều có những nhu cầu riêng và chính những nhu cầu đó quyết định hành vi của họ trong tổ chức. Một tổ chức muốn người lao động làm việc có năng suất cao, cán bộ quản lý phải xác định được nhu cầu ch nh đáng của người lao động trong tổ chức mình là gì, để từ đó có các biện pháp thích hợp thỏa mãn những nhu cầu đó. Từ lâu nhu cầu đã là đối tượng nghiên cứu của hầu hết các ngành khoa học nghiên cứu sinh học và xã hội.
Trong lĩnh vực kinh tế - xã hội vấn đề về nhu cầu được tìm thấy trong nghiên cứu của các nhà khoa học tên tuổi như Jeremy Bentham, Benfild, William Stanley Jevons, John Ramsay McCulloch, Edward S. Đó là hiện tượng phức tạp, đa diện, đặc trưng cho mọi sinh vật. Sự hiện diện của nhu cầu ở bất kì sinh vật nào, ngay cả ở bất kì xã hội nào được xem như cơ thể sống phức tạp, là đặc điểm để phân biệt chủ thể đó với môi trường xung quanh [22]. Trên thế giới có một số tác giả trên thế giới nghiên cứu học thuyết khá sâu về nhu cầu: Học thuyết nhu cầu của Maslow, học thuyết ba nhu cầu của McClelland.
Nhu cầu được hiểu là sự hông đầy đủ về vật chất hay tinh thần mà làm cho một số hệ quả (tức là hệ quả của việc thực hiện nhu cầu) trở nên hấp dẫn [19, tr. Nhu cầu được hiểu là sự cần thiết về một cái gì đó. Nhưng "cái gì đó" chỉ là hình thức biểu hiện bên ngoài của nhu cầu. Sau hình thức biểu hiện ẩn chứa bản chất của nhu cầu mà có thể tạm gọi là "nhu yếu".
Hình thức biểu hiện nhất định được cụ thể hóa thành đối tượng của một nhu cầu nhất định. Đối tượng của nhu cầu chính là cái mà nhu cầu hướng đến và có thể làm thỏa mãn nhu cầu đó. Một đối tượng có thể làm thỏa mãn một số nhu cầu, một nhu cầu có thể được thỏa mãn bởi một số đối tượng, trong đó mức độ thỏa mãn có khác nhau. 7 Như vậy ta có thể hiểu nhu cầu là một hiện tượng tâm lý của con người, xẩy ra hi con người cảm thấy thiếu hụt một cái gì đó.
Nó có thể là mong muốn, nguyện vọng của con người về vật chất và tinh thần để tồn tại và phát triển. Nhu cầu của người lao động rất phong phú và đa dạng. Nhu cầu và sự thỏa mãn nhu cầu đều gắn liền với sự phát triển của nền sản xuất xã hội và sự phân phối các giá trị vật chất và tinh thần trong điều kiện xã hội đó. Nhưng dù trong nền sản xuất nào thì nhu cầu của người lao động cũng gồm hai nhu cầu chính là nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh thần.
Động lực lao động Trong một tổ chức khi NLĐ thực hiện công việc và nhiệm vụ được giao sẽ có những NLĐ làm việc nhiệt tình, hăng say, trách nhiệm và kết quả thực hiện công việc tốt. Ngược lại có những NLĐ làm việc trong trạng thái rất thụ động, thiếu nhiệt huyết, uể oải, thiếu trách nhiệm trong công việc, kết quả thực hiện công việc kém, thậm chí bỏ việc. Một trong những thứ tạo nên sự khác biết trong quá trình và kết quả thực hiện công việc của những người lao động này đó là động lực làm việc của họ. Trên thế giới có rất nhiều quan niệm khác nhau về động lực lao động.
Trong lính vực sinh học thuyết động lực bản năng: cho rằng hành vi được thực hiện là nhờ bản năng. Bản năng là một dạng hành vi cố định có từ khi sinh ra. Các nhà tâm lý học bao gồm William James, Sigmund Freud và William McDougal đã đưa ra một số các bản năng thúc đẩy cơ bản giúp hình thành hành vi. Theo quan điểm của một số nhà nghiên cứu tâm lý: Động lực hay Động cơ được định nghĩa là một quá trình khởi tạo, dẫn dắt và duy trì các hành vi có mục đ ch.
Nói cách hác động lực là cái khiến chúng ta hành động [23]. Theo Maier và Lawer 1973 , động lực là sự khao khát và tự nguyện của mỗi cá nhân. Kreitner 1995 , động lực là một quá trình tâm lý mà nó định hướng các hành vi cá nhân theo mục đ ch nhất định. Tại Việt Nam, một số tác giả trong nước đã có những nghiên cứu và đưa ra quan niệm riêng về động lực.
Lê Đình Lý 2010 , động lực của con người là sự tác động tổng hợp của các yếu tố (vật chất và tinh thần) có tác dụng thúc đầy, kích thích sự hăng say, nỗ lực hoạt 8 động, làm việc của mỗi người nhằm đạt được mục tiêu của cá nhân và mục tiêu của tổ chức [12, tr. Vũ Thị Uyên (2007 , động lực là sự khao khát và tự nguyện của mỗi cá nhân nhằm phát huy mọi nỗ lực để hướng bản thân đạt được mục tiêu cá nhân và mục tiêu của tổ chức [20, tr. Nguyễn Văn Điềm, Nguyễn Ngọc Quân (2007), động lực lao động là sự khao khát và tự nguyện của người lao động để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới công việc đạt được mục tiêu của tổ chức [10, tr. Động lực của người lao động là những nhân tố bên trong kích thích con người nỗ lực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao [19, tr.
Từ điển kinh tế xã hội Việt Nam cho rằng động lực: Là nhân tố bên trong kích th ch con người nỗ lực lao động trong những điều kiện lao động cho phép tạo ra năng suất và hiệu quả cao. Động lực là sự thôi thúc từ bên trong mỗi con người lao động, thúc đẩy con người hoạt động. Theo quan điểm của tác giả: động lực là một quá trình tâm lý bên trong mỗi cá nhân định hướng các hành vi và thúc đẩy họ nỗ lực thực hiện một cách tự nguyện các hành vi đó để đạt được các mục tiêu của bản thân và mục tiêu của tổ chức. Từ trên ta có thể hiểu động lực lao động xuất phát từ chính nhu cầu lao động và là sự mong muốn nỗ lực, cố gắng thực hiện công việc từ chính bản thân người lao động để đạt được mục tiêu cá nhân của người lao động và mục tiêu chung của tổ chức.
Người lao động trong tổ chức sẽ có hai dạng động lực lao động là động lực vật chất và động lực tinh thần. Động lực vật chất là sự ch th ch người lao động làm việc hiệu quả hơn trên cơ sở khuyến khích lợi ích vật chất thông qua các hình thức đãi ngộ: tiền lương, các hình thức tiền thưởng, các hình thức trả lương sản phẩm, phần thưởng sáng kiến, phụ cấp… Động lực tinh thần là sự ch th ch người lao động làm việc hiệu quả hơn trên cơ sở khuyên khích lợi ích tinh thần thông qua biểu dương hen thưởng, tôn vinh, tổ chức các phong trào thi đua, xây dựng bầu không khí làm việc lành mạnh, đoàn ết trong tập thể lao động, tạo cơ hội học tập, cơ hội thăng tiến,… 9 Như vậy, động lực lao động mang tính tự nguyện phụ thuộc chính vào bản thân người lao động, người lao động thường chủ động làm việc hăng hái hi họ cảm thấy không bị một sự ức chế, sự ép buộc hay một áp lực nào trong quá trình làm việc. Khi người lao động được làm việc một cách thoải mái, chủ động tự nguyện thì họ có thể đem lại năng suất lao động tốt nhất cho tổ chức đó. Tạo động lực lao động Tạo động lực làm việc hay tạo động lực lao động là vấn đề thuộc lĩnh vực quản trị của mỗi doanh nghiệp.
Các nhà quản trị muốn xây dựng doanh nghiệp vững mạnh thì phải dùng mọi biện pháp để ch th ch NLĐ hăng say làm việc, phát huy tính sáng tạo của họ trong quá trình làm việc. Tạo động lực cho NLĐ vừa là trách nhiệm vừa là mục tiêu của các nhà quản trị trong doanh nghiệp. Một khi người lao động có động lực động cơ làm việc, thì tính tích cực, tự giác, sáng tạo của NLĐ sẽ được phát huy cũng như tiềm năng tạo ra năng suất lao động và hiệu quả công việc cao. Để tao được động lực cho người lao động thì nhà quản lý phải biết họ đang mong muốn điều gì và đưa ra các ch nh sách tạo động lực thích hợp để làm sao khuyến khích họ làm việc hăng say, hết lòng vì tổ chức, đặt lợi ích tập thể lên trên hết.
Bởi một tổ chức có thành công hay không phụ thuộc rất nhiều vào người lao động và thành quả mà họ mang lại cho DN. Tạo động lực được hiểu là hệ thống các chính sách, biện pháp, thủ thuật quản lý tác động đến người lao động nhằm làm cho người lao động có động lực trong công việc [19, tr. Tạo động lực là sự vận dụng một hệ thống các chính sách, biện pháp, cách thức quản lý tác động tới người lao động nhằm làm cho người lao động có động lực trong công việc, thúc đẩy họ hài l ng hơn với công việc và mong muốn được đóng góp cho tổ chức, doanh nghiệp [20, tr.18] Để có thể tạo được động lực cho người lao động thì cán bộ quản lý cần phải xác định được nhu cầu làm việc của người lao động là gì, từ đó xác định các chính sách tạo động lực hợp lý để có thể giải quyết một cách tốt nhất những nhu cầu đó của người lao động và đạt được các mục tiêu của tổ chức đã đề ra. 10 Như vậy ta có thể hiểu tạo động lực lao động là quá trình tác động đến động lực lao động trong mỗi cá nhân người lao động.