Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Hồ Thị Mỹ Lệ (Khoa Sử, Trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng) tập trung vào đề tài "Việc tạo biểu tượng lịch sử trong giảng dạy các cuộc cách mạng tư sản thời cận đại (lớp 10 - chương trình chuẩn) trên địa bàn TP Đà Nẵng".

Lý do chọn đề tài và bối cảnh thực tiễn

  • Giáo dục được xác định là quốc sách hàng đầu theo tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII. Môn Lịch sử ở trường Trung học phổ thông (THPT) giữ vai trò cung cấp kiến thức nền tảng về khoa học xã hội, giúp học sinh nhận thức lịch sử dân tộc và thế giới.
  • Thực trạng dạy và học Lịch sử tại các trường phổ thông gặp nhiều bất cập do tâm lý phân biệt "môn chính, môn phụ" từ phụ huynh và học sinh, cùng với việc phương pháp giảng dạy của giáo viên chưa đạt hiệu quả cao, dẫn đến sự suy giảm hứng thú học tập.
  • Đặc thù môn Lịch sử là đối tượng nghiên cứu thuộc về quá khứ, không thể trực tiếp quan sát hay tái tạo trong phòng thí nghiệm. Do đó, việc tạo biểu tượng lịch sử là khâu quan trọng giúp học sinh hình dung cụ thể, chính xác về không gian, thời gian và bản chất sự kiện.
  • Giai đoạn lịch sử thế giới cận đại trong chương trình Lớp 10 chứa đựng khối lượng sự kiện đồ sộ về các cuộc cách mạng tư sản (Hà Lan, Anh, Bắc Mỹ, Pháp, Đức, Italia, Mỹ), đòi hỏi phải có hệ thống biện pháp sư phạm trực quan và sinh động.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu: Xác định những biện pháp, nội dung và hình thức sư phạm phù hợp trong việc tạo biểu tượng lịch sử, giúp học sinh nắm vững bản chất sự kiện, hiện tượng thời cận đại và nâng cao chất lượng dạy học môn Lịch sử cấp THPT.

Nhiệm vụ nghiên cứu (gồm 5 nhiệm vụ):

  1. Nghiên cứu chương trình Lịch sử lớp 10 THPT nhằm xác định mức độ và dung lượng kiến thức về các cuộc cách mạng tư sản.
  2. Tiến hành điều tra cơ bản về thực trạng dạy và học lịch sử thế giới cận đại tại các trường THPT trên địa bàn TP Đà Nẵng.
  3. Tổng hợp và phân tích cơ sở lý luận về biểu tượng lịch sử và vai trò sư phạm của việc tạo biểu tượng.
  4. Lựa chọn, xây dựng các hình thức và biện pháp sư phạm tạo biểu tượng phù hợp với các bài học về cách mạng tư sản.
  5. Tổ chức thực nghiệm sư phạm tại trường phổ thông để kiểm tra và đánh giá tính khả thi của các biện pháp đề xuất.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Quy trình và các biện pháp sư phạm tạo biểu tượng lịch sử trong giảng dạy các cuộc cách mạng tư sản thời cận đại (chương trình chuẩn Lớp 10).
  • Phạm vi không gian và thời gian: Thực hiện nghiên cứu thực tiễn và khảo sát tại 3 trường THPT trên địa bàn TP Đà Nẵng (THPT Thái Phiên, THPT Hòa Vang, THPT Phan Thành Tài) trong năm học 2011 – 2012.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khung lý thuyết và khái niệm

Khóa luận kế thừa nền tảng lý luận dạy học lịch sử hiện đại, kết hợp các quan điểm tâm lý học và giáo dục học:

  • Biểu tượng: Được hiểu là hình ảnh của sự vật, hiện tượng được giữ lại trong ý thức, hình thành trên cơ sở tri giác và cảm giác trước đó (dẫn chiếu theo quan điểm của P.A Đu-rích và Từ điển Tâm lý học).
  • Biểu tượng lịch sử: Là hình ảnh về sự kiện, nhân vật lịch sử, hoàn cảnh địa lý được phản ánh trong óc học sinh với những nét chung nhất, điển hình nhất; là bước trung gian từ nhận thức cảm tính lên nhận thức lý tính để hình thành khái niệm lịch sử (theo giáo trình của GS.TS Phan Ngọc Liên, PGS.TS Trịnh Đình Tùng, PGS.TS Nguyễn Thị Côi).
  • Ý nghĩa sư phạm: Tác giả phân tích chức năng tạo biểu tượng trên 3 bình diện: Giáo dưỡng (truyền đạt tri thức chính xác, khắc sâu sự kiện), Giáo dục (bồi dưỡng lập trường tư tưởng, tình cảm đạo đức, thái độ chính trị) và Phát triển (phát triển tư duy lịch sử, năng lực so sánh, đánh giá và kỹ năng tự học).

Phương pháp nghiên cứu

  • Phương pháp luận: Dựa trên thế giới quan của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục; nguyên tắc lịch sử và tính khách quan khoa học.
  • Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Khai thác các giáo trình lý luận dạy học lịch sử, sách chuyên khảo, tài liệu lịch sử thế giới cận đại, văn kiện pháp lý và các tác phẩm văn học liên quan.
  • Phương pháp điều tra cơ bản: Sử dụng phiếu hỏi trắc nghiệm gồm 10 câu hỏi đối với 140 học sinh và phiếu điều tra (kết hợp trắc nghiệm và tự luận) gồm 8 câu hỏi đối với 14 giáo viên THPT tại Đà Nẵng.
  • Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Giảng dạy thực nghiệm có đối chứng tại 3 trường THPT trên địa bàn nghiên cứu.
  • Phương pháp thống kê toán học: Xử lý các dữ liệu khảo sát và kết quả kiểm tra.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc tạo biểu tượng lịch sử để giảng dạy các cuộc cách mạng tư sản thời cận đại (lớp 10 – chương trình chuẩn) trên địa bàn TP Đà Nẵng

Chương 1 tập trung hệ thống hóa cơ sở lý luận về biểu tượng lịch sử và đánh giá thực trạng dạy học lịch sử thế giới cận đại tại địa phương.

  • Khái niệm và bản chất: Lịch sử là những sự kiện đã diễn ra, không thể quan sát trực tiếp hay tái tạo trong phòng thí nghiệm. Do đó, biểu tượng lịch sử đóng vai trò là cơ sở để hình thành các khái niệm sơ đẳng và khái niệm khoa học lịch sử. Biểu tượng không chỉ dừng lại ở sự miêu tả hình thức bên ngoài mà còn phản ánh những dấu hiệu bản chất bên trong của hiện thực lịch sử.
  • Ý nghĩa sư phạm toàn diện:
    • Mặt giáo dưỡng: Cung cấp tri thức xác thực về hoàn cảnh địa lý, niên đại, sự kiện và nhân vật; giúp học sinh ghi nhớ có hệ thống thay vì học vẹt.
    • Mặt giáo dục: Khơi dậy sự đồng cảm đối với quần chúng lao động bị áp bức, lòng căm ghét chế độ phong kiến thối nát (thông qua hình ảnh cung đình xa hoa của Louis XVI hay vua Sác-lơ I đối lập với đời sống bần cùng của nông dân); bồi dưỡng tấm gương đạo đức và ý chí tự lập từ các nhân vật như George Washington, Abraham Lincoln.
    • Mặt phát triển: Kích thích tư duy logic, rèn luyện quan điểm lịch sử cụ thể, phát triển năng lực so sánh, phân tích các lực lượng chính trị và hình thành thói quen tự nghiên cứu tư liệu.
  • Khảo sát thực tiễn tại Đà Nẵng:
    • Khảo sát học sinh: Kết quả điều tra 140 học sinh tại THPT Thái Phiên, THPT Hòa Vang và THPT Phan Thành Tài cho thấy phần lớn học sinh chưa nắm chắc các sự kiện cơ bản, nhầm lẫn mốc thời gian và chưa hiểu rõ mối quan hệ giữa hoạt động của các nhân vật lịch sử với tiến trình phát triển xã hội.
    • Khảo sát giáo viên: Thăm dò 14 giáo viên cho thấy 100% giáo viên khẳng định tầm quan trọng của việc tạo biểu tượng. Tuy nhiên, việc thực hiện gặp khó khăn do thiếu phương tiện trực quan, tranh ảnh, nguồn tư liệu bổ trợ; đồng thời áp lực phân phối thời gian trên lớp quá ít so với dung lượng kiến thức.

Chương 2: Các loại biểu tượng được sử dụng trong giảng dạy các cuộc cách mạng tư sản thời cận đại (lớp 10 – chương trình chuẩn) ở trường THPT

Chương 2 phân tích nội dung chương trình SGK Lịch sử 10 chuẩn. Khóa trình thế giới cận đại gồm 3 chương (12 bài, phân bổ trong 15 tiết học và 1 tiết kiểm tra). Riêng phần cách mạng tư sản gồm 4 bài (bài 29, 30, 31, 33) được dạy trong 6 tiết (tiết 37, 38, 39, 40, 42, 43).

Trên cơ sở đặc thù nội dung, tác giả phân chia và xây dựng hệ thống 3 nhóm biểu tượng chính cho từng cuộc cách mạng:

Tên bài học / Cuộc cách mạng Biểu tượng hoàn cảnh địa lý & sự kiện Biểu tượng nhân vật lịch sử Biểu tượng quan hệ xã hội & văn học, số liệu
Cách mạng tư sản Hà Lan (Bài 29) Sự kiện nổi dậy miền Bắc Nê-đéc-lan (8/1566); Hội nghị U-trếch (1/1579); Thành lập nước Cộng hòa (7/1581). Vua Philip II: Quyền lực, giàu có, sùng đạo, tiêu tốn ngân khố vào chiến tranh dẫn đến suy vong của Tây Ban Nha. Áp bức dân tộc và tôn giáo của Tây Ban Nha; mâu thuẫn giữa quan hệ TBCN non trẻ với chế độ phong kiến thống trị.
Cách mạng tư sản Anh (Bài 29) Nội chiến giữa Quốc hội và nhà vua (1642-1648); Xử tử Sác-lơ I (1649); Thiết lập nền độc tài quân sự (1653); Chính biến 12/1688. - Sác-lơ I: Độc đoán, lộng hành, bán giấy phép nhu yếu phẩm, đàn áp Thanh giáo.
- Oliver Cromwell: Chỉ huy quân đội mới ("Sắt thép"), Huân tước bảo hộ.
Hiện tượng "Cừu ăn thịt người" (trích Thomas More); phong trào rào đất cướp ruộng biến nông dân thành vô sản; sự ra đời của tầng lớp quý tộc mới.
Chiến tranh giành độc lập Bắc Mỹ (Bài 30) Vị trí 13 thuộc địa; Sự kiện chè Bô-xtơn (1773); Đại hội lục địa tại Philadelphia (1774, 1775); Tuyên ngôn Độc lập (4/7/1776); Chiến thắng Xa-ra-tô-ga (1777), I-ooc-tao (1781). George Washington: Người chỉ huy quân sự quả cảm, chủ nô miền Nam, Tổng thống đầu tiên kiến tạo nền tảng chính phủ Hợp chúng quốc Hoa Kỳ. Mâu thuẫn giữa sự phát triển công thương nghiệp tư bản ở 13 thuộc địa với các sắc thuế và lệnh cấm đoán của thực dân Anh.
Cách mạng tư sản Pháp cuối thế kỷ XVIII (Bài 31) Phá ngục Ba-xti (14/7/1789); Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền (8/1789); Xử tử Louis XVI (21/1/1793); Chuyên chính Giacôbanh (1793-1794). - Louis XVI: Xa hoa, phì nộn, bất tài, thích săn bắn.
- Robespierre: "Con người không thể bị mua chuộc".
- Các nhà Triết học Ánh sáng: Montesquieu, Voltaire, Rousseau.
Tình cảnh 3 đẳng cấp; số liệu chuồng ngựa 1.857 con của vua đối lập với nông dân chịu 3 tầng áp bức; số liệu Đạo luật bầu cử 1791 (chỉ 1,65% dân số là công dân tích cực).
Đấu tranh thống nhất Đức (Bài 33) Các cuộc chiến tranh chống Đan Mạch (1864), Áo (1866), Pháp (1870-1871); Thành lập Liên bang Bắc Đức (1867); Lễ thành lập Đế chế tại Versailles (18/1/1871). Bismarck: Thủ tướng Phổ, nhà chính trị thực tế, lạnh lùng, chủ trương thống nhất nước Đức bằng "sắt và máu" từ trên xuống. Sự liên minh giữa quý tộc quân phiệt Phổ và tư sản; mầm mống của chủ nghĩa quân phiệt hiếu chiến tại châu Âu.
Công cuộc thống nhất Italia (Bài 33) Cavour liên minh với Pháp chống Áo (1859); Khởi nghĩa đảo Sicilia (4/1860); Hoàn thành thống nhất (1870). Garibaldi: Người anh hùng dân tộc, chỉ huy đội quân tình nguyện "Áo đỏ" (đội quân "một nghìn"). Phong trào giải phóng dân tộc kết hợp xóa bỏ sự chia cắt phong kiến và ách thống trị của đế quốc Áo.
Nội chiến ở Mỹ (Bài 33) Bùng nổ chiến tranh (12/4/1861); Sắc lệnh bãi bỏ chế độ nô lệ (1/1/1863); Quân đội Liên bang chiến thắng Hiệp bang (9/4/1865). Abraham Lincoln: Xuất thân nghèo khó, tự học thành tài, luật sư trung thực, "Người giải phóng vĩ đại" bãi bỏ chế độ nô lệ. Xung đột giữa kinh tế công nghiệp tư bản miền Bắc và chế độ đồn điền bóc lột nô lệ miền Nam; sử dụng tác phẩm văn học "Cuốn theo chiều gió" của Margaret Mitchell.

Chương 3: Một số hình thức và biện pháp sư phạm tạo biểu tượng được sử dụng trong giảng dạy các cuộc cách mạng tư sản (lớp 10 – chương trình chuẩn) ở trường THPT

Chương 3 trình bày các nguyên tắc và hệ thống giải pháp sư phạm ứng dụng trong bài học nội khóa (loại bài cung cấp kiến thức mới).

  • 4 nguyên tắc chung khi tạo biểu tượng:
    1. Nắm vững kiến thức, yêu cầu chương trình và nội dung môn học: Giáo viên phải làm chủ khoa học lịch sử để xác định chính xác dung lượng kiến thức cốt lõi.
    2. Đảm bảo tính khoa học: Tránh hiện đại hóa lịch sử; tuân thủ quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin khi đánh giá nhân vật và sự kiện gắn liền với hoàn cảnh lịch sử cụ thể.
    3. Phù hợp với đối tượng học sinh: Đáp ứng đặc điểm tâm lý lứa tuổi học sinh lớp 10 (đang hoàn thiện tư duy trừu tượng, có nhu cầu tìm tòi tài liệu).
    4. Nắm vững các biện pháp sư phạm tạo biểu tượng: Phối hợp nhịp nhàng các phương tiện trực quan, ngôn ngữ và số liệu để tạo thành bức tranh lịch sử hoàn chỉnh.
  • Các biện pháp sư phạm cụ thể:
    • Cụ thể hóa thời điểm và xác định địa điểm: Sử dụng lược đồ (Lược đồ 13 thuộc địa Anh, Lược đồ nội chiến Anh), tranh ảnh lịch sử (Bức tranh phá ngục Ba-xti); kết hợp tường thuật diễn biến quân sự (như trận đánh ngày 12/4/1861 trong Nội chiến Mỹ); kỹ thuật so sánh đồng đại (liên hệ năm 1789 ở Pháp với sự kiện Quang Trung đại phá quân Thanh ở Việt Nam) để học sinh dễ ghi nhớ niên đại.
    • Tạo biểu tượng nhân vật lịch sử:
      • Cụ thể hóa hoạt động và kết quả: Nêu bật các quyết định chính trị lớn như Sắc lệnh cấp đất miền Tây (1862) và Sắc lệnh bãi bỏ chế độ nô lệ (1863) của Lincoln; các trận đánh của Washington tại Saratoga và Yorktown.
      • Miêu tả chân dung và đặc điểm tính cách: Khắc họa tính cách cương quyết bằng "sắt và máu" của Bismarck, sự kiên định "không thể bị mua chuộc" của Robespierre, hay lối sống phung phí của Louis XVI.
      • Sử dụng đồ dùng trực quan (tranh chân dung) đúng nguyên tắc: Xác định rõ thời điểm xuất xứ bức tranh và làm rõ bản chất giai cấp của nhân vật đại diện.

Kết quả và đóng góp

Kết quả chính rút ra từ văn bản

  • Hệ thống hóa đầy đủ cơ sở lý luận về việc hình thành biểu tượng lịch sử trong giảng dạy Lịch sử lớp 10 theo chương trình chuẩn.
  • Đánh giá chân thực thực trạng giảng dạy lịch sử thế giới cận đại qua khảo sát 140 học sinh và 14 giáo viên tại 3 trường THPT ở Đà Nẵng: khẳng định nguyên nhân cốt lõi khiến học sinh ghi nhớ yếu là do thiếu biểu tượng trực quan, sự thiếu hụt phương tiện dạy học và việc phân phối thời lượng chưa hợp lý.
  • Phân loại và xây dựng bảng danh mục chi tiết các biểu tượng lịch sử (hoàn cảnh địa lý, nhân vật lịch sử, quan hệ xã hội) cho toàn bộ 4 bài học về cách mạng tư sản trong chương trình Lớp 10.

Đề xuất và kiến nghị của tác giả

  • Đề nghị điều chỉnh phân phối chương trình môn Lịch sử 10: bài "Cách mạng Hà Lan và cách mạng tư sản Anh" (bài 29) và "Chiến tranh giành độc lập của các thuộc địa Anh ở Bắc Mỹ" (bài 30) hiện chỉ được phân bổ 1 tiết học là quá ít so với dung lượng kiến thức, khiến giáo viên không đủ thời gian xây dựng biểu tượng hoàn chỉnh.
  • Tăng cường trang bị phương tiện trực quan, bản đồ, tranh ảnh lịch sử và cung cấp nguồn tài liệu tham khảo cho các trường THPT.
  • Giáo viên cần linh hoạt kết hợp nhiều biện pháp sư phạm: sử dụng số liệu lịch sử chọn lọc, trích dẫn văn học, khai thác tiểu sử nhân vật và liên hệ lịch sử dân tộc trong cùng thời đại.

Đóng góp của khóa luận

Khóa luận đã giải quyết khoảng trống nghiên cứu khi trước đó các công trình chỉ đề cập đến việc tạo biểu tượng một cách khái quát (giáo trình của GS. Phan Ngọc Liên) hoặc nghiên cứu riêng lẻ về nhân vật (PGS. Đặng Văn Hồ) hoặc tài liệu văn học (Hồ Phi Cường). Đây là công trình đầu tiên xây dựng hệ thống biện pháp tạo biểu tượng chuyên biệt, có tính thực tiễn cao cho phần các cuộc cách mạng tư sản thời cận đại lớp 10 tại địa bàn Đà Nẵng.


Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Phạm vi khảo sát thực tiễn chỉ giới hạn ở 140 học sinh và 14 giáo viên tại 3 trường THPT thuộc địa bàn TP Đà Nẵng trong năm học 2011 – 2012. Do phân phối chương trình lớp 10 chuẩn không bố trí bài ôn tập/tổng kết cho phần cách mạng tư sản, khóa luận chỉ tập trung nghiên cứu biện pháp tạo biểu tượng cho dạng bài nội khóa (bài cung cấp kiến thức mới) mà chưa mở rộng ra các dạng bài khác.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu việc tạo biểu tượng lịch sử cho các bài học ngoại khóa, các giai đoạn lịch sử khác trong chương trình THPT, hoặc mở rộng địa bàn khảo sát ra toàn khu vực miền Trung.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng tham khảo: Giáo viên giảng dạy Lịch sử tại các trường THPT, sinh viên chuyên ngành Sư phạm Lịch sử, học viên cao học ngành Lý luận và Phương pháp dạy học Lịch sử.
  • Nội dung có giá trị ứng dụng:
    • Bảng hệ thống hóa các biểu tượng nhân vật, không gian, thời gian và số liệu lịch sử tại Chương 2 có thể sử dụng trực tiếp để soạn giáo án bài giảng Lớp 10 (bài 29, 30, 31, 33).
    • Quy trình 4 bước và các nguyên tắc lựa chọn tư liệu, sử dụng tranh ảnh chân dung nhân vật tại Chương 3 là tài liệu tham khảo hữu ích cho việc đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh.

Câu hỏi thường gặp

1. Tác giả đã tiến hành khảo sát thực tiễn ở những trường nào và quy mô mẫu là bao nhiêu?
Tác giả đã điều tra 140 học sinh thông qua phiếu hỏi trắc nghiệm 10 câu và thăm dò ý kiến của 14 giáo viên (phiếu 8 câu) tại 3 trường THPT trên địa bàn TP Đà Nẵng: THPT Thái Phiên, THPT Hòa Vang và THPT Phan Thành Tài (năm học 2011 – 2012).

2. Khóa luận phân chia hệ thống biểu tượng trong các cuộc cách mạng tư sản lớp 10 thành mấy nhóm?
Tác giả phân chia thành 3 nhóm chính: (1) Biểu tượng về hoàn cảnh địa lý (thời điểm và địa điểm xảy ra sự kiện); (2) Biểu tượng về nhân vật lịch sử (gồm tuyến nhân vật chính diện và phản diện); (3) Biểu tượng về thời gian và các quan hệ xã hội của con người (kết hợp số liệu lịch sử, tài liệu văn học).

3. Tác giả đưa ra ví dụ nào về việc sử dụng tài liệu văn học và số liệu để tạo biểu tượng xã hội?

  • Tài liệu văn học: Trích dẫn tác phẩm của Thomas More mô tả hiện tượng "cừu ăn thịt người" trong Cách mạng tư sản Anh; tác phẩm "Cuốn theo chiều gió" của Margaret Mitchell để mô tả đời sống đồn điền miền Nam trước và trong Nội chiến Mỹ.
  • Số liệu lịch sử: Dẫn số liệu chuồng ngựa 1.857 con và đám quần thần 2 vạn người của vua Louis XVI; số liệu Đạo luật hạn chế bầu cử ngày 18/5/1791 ở Pháp (chỉ có 4.300/260.000 người đủ tư cách công dân tích cực, chiếm 1,65% dân số).

4. Bất cập trong phân phối chương trình SGK Lịch sử 10 được khóa luận chỉ ra là gì?
Phần các cuộc cách mạng tư sản gồm 4 bài phân phối trong 6 tiết. Trong khi bài Cách mạng Pháp và bài Hoàn thành cách mạng tư sản được phân bổ 2 tiết/bài là hợp lý, thì bài 29 (Cách mạng Hà Lan và Anh) và bài 30 (Chiến tranh giành độc lập Bắc Mỹ) có dung lượng kiến thức rất lớn nhưng chỉ được bố trí 1 tiết/bài, gây khó khăn cho giáo viên trong việc tạo biểu tượng đầy đủ.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Hồ Thị Mỹ Lệ đã giải quyết một cách khoa học vấn đề lý luận và thực tiễn của việc tạo biểu tượng lịch sử trong giảng dạy các cuộc cách mạng tư sản thời cận đại lớp 10. Thông qua việc khảo sát thực trạng tại 3 trường THPT trên địa bàn TP Đà Nẵng, tác giả đã xây dựng hệ thống dữ liệu biểu tượng phong phú và đề xuất các biện pháp sư phạm cụ thể, sát hợp với chương trình học. Công trình là tài liệu tham khảo thiết thực, đóng góp vào việc nâng cao chất lượng dạy học và khơi dậy hứng thú học tập bộ môn Lịch sử ở trường phổ thông.