Chương 1: Tổng quan các công trình nghiên cứu đã công bố và xác định khoảng trống nghiên cứu của đề tài luận án Chương 2: Cơ sở lý luận về đẩy mạnh xuất khẩu mặt hàng da giày của một quốc gia vào một khu vực thị trường đã ký kết Hiệp định thương mại tự do Chương 3: Thực trạng đẩy mạnh xuất khẩu mặt hàng da giày của Việt Nam vào thị trường EU trong tiến trình thực hiện Hiệp định EVFTA 11 Tieu luan Chương 4: Quan điểm, định hướng và giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu mặt hàng da giày của Việt Nam vào thị trường EU trong tiến trình thực hiện Hiệp định EVFTA thời kỳ đến năm 2030. 12 Tieu luan CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU ĐÃ CÔNG BỐ VÀ XÁC ĐỊNH KHOẢNG TRỐNG NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu đã công bố liên quan đến đề tài luận án 1. Các nghiên cứu về lý thuyết thương mại quốc tế Có rất nhiều công trình nghiên cứu về lý thuyết thương mại quốc tế, về chính sách ngoại thương nói chung và phát triển xuất, nhập khẩu (XNK) nói riêng.
Các lý thuyết thương mại quốc tế như lợi thế so sánh, lợi thế cạnh tranh, chuỗi giá trị toàn cầu… được đề cập trong các nghiên cứu kinh điển và hiện đại như nghiên cứu của Davis Ricardo về lợi thế so sánh, nghiên cứu của M. Porter về lợi thế cạnh tranh. Một số công trình nghiên cứu đã đề cập đến mô hình tăng trưởng kinh tế dựa vào thúc đẩy xuất khẩu. Một số công trình khác nghiên cứu về chất lượng tăng trưởng xuất khẩu, thúc đẩy xuất khẩu để nâng cao trình độ công nghệ của nền kinh tế… Những nghiên cứu này sẽ cung cấp căn cứ cho việc xây dựng các tiêu chí đánh giá thúc đẩy xuất khẩu da giầy của Việt Nam nói chung và sang thị trường EU nói riêng.
- Nghiên cứu của Jacob Viner's, The Customs Union Issue, 1950 đã thiết lập khuôn khổ cho cuộc tranh luận về lợi ích của các liên minh. Viner là người tiên phong trong việc phát triển các khái niệm về tạo lập thương mại và chuyển hướng thương mại trong các liên minh/hiệp định thương mại tự do. Ông cho rằng trong các liên minh thuế quan, dựa trên sự ưu đãi về mặt thuế quan mà các thành viên dành cho nhau, sự dịch chuyển thương mại sẽ diễn ra theo hai hiệu ứng gồm hiệu ứng chuyển hướng thương mại và hiệu ứng tạo lập thương mại. [108] - Tinbergen Jan, Suggesstions for an International Economy Policy, 1962.
Nghiên cứu của Tinbergen Jan về mô hình lực hấp dẫn cho rằng trao đổi thương mại song phương phụ thuộc vào quy mô của các nền kinh tế và khoảng cách giữa chúng. Mô hình lực hấp dẫn thường xem xét đến một số biến khác như GDP bình quân đầu người, chỉ số giá, thuế quan, tỉ giá hối đoái và một số biến giả như có phải là thành viên của FTA.[113] 13 Tieu luan - Leontief Walras, General Equilibrium Theory, 1870. Lý thuyết cân bằng tổng thể tìm cách giải thích cung, cầu và giá của tổng thể một nền kinh tế với đặc điểm có sự tương tác qua lại giữa rất nhiều thị trường của rất nhiều mặt hàng. Lý thuyết này chứng minh rằng giá cân bằng của các mặt hàng có tồn tại, và khi giá thị trường của tất cả các mặt hàng đạt tới trạng thái cân bằng thì nền kinh tế đạt trạng thái cân bằng tổng thể, theo Dựa trên lý thuyết cân bằng tổng thể, mô hình cân bằng tổng thể được xây dựng để phân tích giá cả và thương mại giữa hai thị trường quốc tế trong mối quan hệ mắt xích nhiều thị trường và nhiều mặt hàng.
Mô hình cân bằng tổng thế được giải thích thông qua các biến nội sinh trong mô hình như giá cả, sản lượng xuất khẩu, sản lượng nhập khẩu, thu nhập hộ gia đình,… và một số biến ngoại sinh như các chỉ số co giãn, các tỷ trọng tham số,… Mô hình cân bằng tổng thể có ưu điểm là cung cấp cơ sở thực nghiệm để đánh giá tác động của chính sách thương mại (chẳng hạn thông qua FTAs). Tuy nhiên, mô hình có một số nhược điểm như vẫn chưa nhận định được tác động của các rào cản phi thuế quan (SPS, TBT…), các vấn đề liên quan đến hải quan, các tiêu chuẩn kĩ thuật,…[110] - Marshall, Price Elasticity of Demand, 1890. Lý thuyết về độ co giãn của Marshal chỉ ra rằng độ co dãn của cầu theo giá thể hiện sự thay đổi của lượng cầu hàng hoá khi giá cả biến động với điều kiện các yếu tố khác không đổi (ceteris paribus). Hệ số co dãn của cầu theo giá được đo bằng tỷ số giữa phần trăm thay đổi trong lượng cầu so với phần trăm thay đổi trong mức giá.
Armington về sau kế thừa nghiên cứu của Marshall xây dựng mở rộng các hệ số co dãn của cầu nhập khẩu và co giãn thay thế nhập khẩu.[111] - Cơ sở Dữ liệu và Phần mềm về Thương mại của Ngân hàng Thế giới (WITS), thông qua các lý thuyết kinh tế, mô hình cân bằng cục bộ SMART. SMART được xây dựng trên các lý thuyết nền tảng gồm có lý thuyết cân bằng cục bộ, lý thuyết tạo lập, chuyển hướng thương mại, doanh thu thuế và phúc lợi xã hội, lý thuyết cầu nhập khẩu và cung xuất khẩu, các lý thuyết và các thông số về độ co dãn. SMART sử dụng các cơ sở dữ liệu khác nhau liên quan đến thuế quan, thương mại để mô phỏng tác động của cắt giảm thuế quan lên thương mại. Kết quả mô phỏng của SMART cho thấy tác động định lượng của một FTA hoặc một ưu đãi, sự thay đổi về mặt thuế quan đến xuất nhập khẩu một ngành hàng.
Mô hình SMART thể hiện được ưu điểm trong việc đánh giá tác động của FTA, đặc biệt là tác động lên một nhóm/ngành hàng cụ thể (tức phân tích ở mức 14 Tieu luan độ đơn ngành - disaggregated analysis). Tuy nhiên, mô hình này cũng có nhược điểm là phân tích đối tượng một cách độc lập, chưa đặt trong mối quan hệ với các ngành liên quan cũng như trong bối cảnh tổng thể nền kinh tế. Nghiên cứu về lý luận, thực tiễn về giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa trong nước - ngoài nước Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ, Viện Nghiên cứu Chiến lược, Chính sách Công Thương (2017) về chủ đề Nghiên cứu đề xuất giải pháp thúc đẩy xuất khẩu nông sản của Việt Nam sang thị trường Liên minh châu Âu (EU) trong điều kiện thực hiện Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - Liên minh châu Âu (FTA VN - EU) do ThS. Hoàng Thị Vân Anh làm chủ nhiệm.
Đề tài đã đi sâu phân tích thực trạng và đề xuất giải pháp xuất khẩu nông sản của Việt Nam sang EU trong điều kiện thực hiện Hiệp định Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - Liên minh châu Âu (EVFTA). Nội dung của đề tài đã khái quát và đánh giá thực trạng xuất khẩu hàng nông sản của Việt Nam sang thị trường Liên minh châu Âu, đặc biệt là những phân tích, đánh giá về các yếu tố có ảnh hưởng đến xuất khẩu hàng nông sản của Việt Nam sang thị trường EU thời gian qua, từ đó đưa ra những nhận định làm cơ sở cho việc đề xuất các giải pháp thiết thực, hiệu quả thời gian tới nhằm thúc đẩy xuất khẩu hàng nông sản của Việt Nam sang thị trường Liên minh châu Âu, đặc biệt khi mà FTA Việt Nam - EU có hiệu lực.[1] Luận án tiến sĩ của NCS Nguyễn Tuấn Anh, Đại học kinh tế quốc dân (2006) với chủ đề về Giải pháp nâng cao khả năng cạnh tranh hàng may mặc của Việt Nam trên thị trường EU. Luận án đã hệ thống hóa lý thuyết về cạnh tranh và khả năng cạnh tranh sản phẩm nói chung và hàng may mặc Việt Nam nói riêng trên thị trường EU; phân tích những lợi thế và hạn chế của hàng may mặc Việt Nam trên thị trường EU, đồng thời đánh giá thực trạng khả năng cạnh tranh hàng may mặc của Việt Nam trên thị trường EU, qua đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh hàng may mặc của Việt Nam trên thị trường EU.[2] Luận án tiến sĩ của NCS Nguyễn Thanh Bình, Đại học Ngoại Thương (2005) với chủ đề Nghiên cứu một số vấn đề lý luận và thực tiễn áp dụng các quy định của EU về chính sách sản phẩm nhập khẩu trong marketing xuất khẩu ở các doanh nghiệp Việt Nam nhằm đẩy mạnh xuất khẩu sang thị trường này, đã 15 Tieu luan luận giải những khái nhiệm liên quan đến marketig xuất khẩu và chính sách sản phẩm trong marketing xuất khẩu. Tác giả đã phân tích các quy định về chính sách sản phẩm nhập khẩu của EU.
Từ việc nghiên cứu thực trạng xuất khẩu hàng hóa Việt Nam - EU từ những năm trước và việc đáp ứng các quy định của EU về chính sách sản phẩm nhập khẩu, tác giả đã đề xuất một số giải pháp nhằm đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang thị trường Liên minh châu Âu (EU). [3] Nghiên cứu của Hoa Hữu Cường (2016), Nâng cao khả năng xuất khẩu hàng hóa chủ lực của Việt Nam vào EU trong giai đoạn 2011-2020 đã tập trung đề xuất một số giải pháp và cũng là khuyến nghị đối với nhà nước, doanh nghiệp trong việc nâng cao khả năng xuất khẩu hàng hóa chủ lực của Việt Nam ở thị trường EU. Về phía nhà nước, cần hoàn thiện hành lang pháp lý, môi trường kinh doanh cho doanh nghiệp, hỗ trợ doanh nghiệp trong việc tiếp cận thị trường EU, thúc đẩy đầu tư công nghệ, có chính sách phát triển nguồn nhân lực. Về phía doanh nghiệp, tích cực nghiên cứu thị trường EU, xây dựng chiến lược thâm nhập thị trường, đẩy mạnh công tác xúc tiến xuất khẩu, nâng cao chất lượng sản phẩm, tìm nguồn tín dụng hỗ trợ nhập khẩu.[23] Luận án tiến sĩ của NCS Đỗ Thị Hương, Đại học Kinh tế quốc dân (2009), Hoàn thiện hoạt động xúc tiến nhằm thúc đẩy xuất khẩu của các doanh nghiệp Việt Nam vào thị trường EU.
Luận án đã tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận, phân định các khái niệm có liên quan và làm rõ bản chất, nội dung cũng như các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động xúc tiến xuất khẩu của Chính phủ, từ đó khẳng định vai trò và tầm quan trọng của hoạt động xúc tiến xuất khẩu của Chính phủ Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế.