PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề án Xuất khẩu lao động đƣợc xác định là một lĩnh vực kinh tế đối ngoại quan trọng của đất nƣớc. Tăng cƣờng XKLĐ, đặc biệt trong tình hình hiện nay luôn đƣợc Đảng và Nhà nƣớc quan tâm và xác định là một chiến lƣợc quan trọng, lâu dài, góp phần cải thiện đời sống cho một bộ phận ngƣời lao động; giải quyết việc làm, tăng thu nhập và tạo ra nguồn thu ngoại tệ cho đất nƣớc. Mặt khác, XKLĐ cũng góp phần xây dựng đội ngũ lao động chất lƣợng cho công cuộc xây dựng đất nƣớc trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa; thúc đẩy quan hệ hợp tác và tạo điều kiện cho nƣớc ta hội nhập sâu hơn vào khu vực và quốc tế.
Liên quan đến nội dung về XKLĐ, hiện nay vẫn chƣa có văn bản hợp nhất về vấn đề này, tuy nhiên, việc quy định riêng về từng nội dung trong hoạt động XKLĐ tạo nền tảng pháp lý cho công tác QLNN về XKLĐ luôn đƣợc Đảng và Nhà nƣớc hết sức quan tâm, thực hiện. Theo từng giai đoạn phát triển của đất nƣớc, các quan điểm, chủ trƣơng của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nƣớc cũng có sự điều chỉnh nhằm đảm bảo phù hợp trình độ phát triển hiện tại. Gần đây nhất, ngày 12/12/2022 Ban Bí thƣ Trung ƣơng Đảng khóa XIII đã ban hành Chỉ thị số 20-CT/TW, trong đó nhấn mạnh quan điểm về tăng cƣờng sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác XKLĐ trong tình hình mới. Trên cơ sở Chỉ thị số 20-CT/TW của Ban Bí thƣ, ngày 31/12/2023 Chính phủ ban hành Nghị quyết số 225/NQ-CP về Ban hành kế hoạch triển khai thực hiện Chỉ thị số 20-CT/TW.
Mặc dù Chỉ thị và Nghị quyết không đề cập cụ thể đến XKLĐ, nhƣng lại đề cập trực tiếp đến việc tăng cƣờng sự lãnh đạo, quản lý trong công tác đƣa NLĐ Việt Nam đi làm việc ở nƣớc ngoài - là đối tƣợng, đồng thời là chủ thể quan trọng của hoạt động XKLĐ. Trong những năm qua, công tác QLNN về XKLĐ trên địa bàn tỉnh Bình Định đã đạt đƣợc nhiều kết quả đáng ghi nhận, cụ thể từ năm 2020 đến 2023 2 các doanh nghiệp của tỉnh đã đƣa 2.489 NLĐ đi XKLĐ, gần đây nhất năm 2023 tỉnh đã đƣa đƣợc 821 lao động đi xuất khẩu, đạt 117,2%, vƣợt kế hoạch đề ra. Những con số này cho thấy sự nỗ lực của địa phƣơng trong việc tăng cƣờng hoạt động XKLĐ, qua đó góp phần giải quyết việc làm và cải thiện đời sống cho ngƣời lao động. Tuy nhiên bên cạnh những kết quả đạt đƣợc, thực tế vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập cần tăng cƣờng nhƣ: Nhận thức về XKLĐ của NLĐ còn chƣa đầy đủ, thống nhất; chƣa trang bị cho NLĐ đầy đủ kiến thức pháp luật, kỹ năng làm việc, hiểu biết về hợp đồng lao động,.
theo yêu cầu của phía đơn vị tiếp nhận; tạo nguồn XKLĐ, tìm kiếm, mở rộng thị trƣờng XKLĐ gặp nhiều khó khăn; vấn đề dự báo, xác định các giải pháp nâng cao hiệu quả XKLĐ còn chƣa phù hợp với TTLĐ dẫn đến hiệu quả kinh tế đem lại còn thấp, chƣa tƣơng xứng với yêu cầu và tiềm năng về nguồn nhân lực của tỉnh, đặc biệt trong tình hình mới hiện nay. Đứng trƣớc tình hình đó, yêu cầu đặt ra cho chính quyền địa phƣơng là cần có hệ thống giải pháp đồng bộ, đột phá, những hoạt động cụ thể từ góc độ quản lý nhà nƣớc nhằm khắc phục hạn chế, bất cập, thực hiện tốt chủ trƣơng của Đảng, Nhà nƣớc trong vấn đề tăng cƣờng QLNN về XKLĐ trong tình hình mới nhƣ hiện nay. Xuất phát từ những lý do trên, tác giả quyết định lựa chọn đề tài “Tăng cường quản lý nhà nước về xuất khẩu lao động trên địa bàn tỉnh Bình Định trong tình hình mới” để nghiên cứu viết Đề án. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của đề án - Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động tăng cƣờng quản lý nhà nƣớc về xuất khẩu lao động đối với cấp tỉnh.
- Phạm vi nghiên cứu: + Về nội dung: Đề án tập trung luận giải lý do cần phải tăng cƣờng QLNN về XKLĐ nói chung và trên địa bàn tỉnh Bình Định nói riêng trong tình hình mới. Từ đó, đƣa ra phƣơng hƣớng và hệ thống các giải pháp cụ thể 3 phải thực hiện để tăng cƣờng QLNN về XKLĐ đối với tỉnh Bình Định trong tình hình mới đứng về góc độ quản lý nhà nƣớc. + Về không gian: Đề án nghiên cứu hoạt động tăng cƣờng QLNN về XKLĐ trên địa bàn tỉnh Bình Định. + Về thời gian: Đề án nghiên cứu thực trạng hoạt động QLNN về XKLĐ trên địa bàn tỉnh Bình Định giai đoạn 2020 - 2023; đề xuất phƣơng hƣớng và giải pháp tăng cƣờng QLNN về XKLĐ đến năm 2030.
Mục tiêu và nhiệm vụ của đề án - Mục tiêu nghiên cứu: Mục tiêu nghiên cứu của đề án nhằm làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn tăng cƣờng QLNN về XKLĐ đối với cấp tỉnh trong tình hình mới. Đánh giá thực trạng QLNN về XKLĐ trên địa bàn tỉnh Bình Định giai đoạn 2020 - 2023, làm rõ những hạn chế, bất cập cần phải tăng cƣờng QLNN về XKLĐ trong tình hình mới. Đề xuất phƣơng hƣớng và giải pháp tăng cƣờng QLNN về XKLĐ trên địa bàn tỉnh Bình Định đến năm 2030. - Nhiệm vụ nghiên cứu: Để đạt đƣợc mục tiêu trên, đề án tập trung giải quyết các nhiệm vụ chủ yếu sau: Để đạt đƣợc mục tiêu trên, đề án tập trung giải quyết các nhiệm vụ chủ yếu sau: Tác giả hệ thống hóa cơ sở lý luận; cơ sở chính trị, pháp lý; cơ sở thực tiễn về XKLĐ và tăng cƣờng QLNN về XKLĐ đối với cấp tỉnh.
Phân tích, đánh giá thực trạng QLNN về XKLĐ trên địa bàn tỉnh Bình Định, làm rõ những kết quả đạt đƣợc, những hạn chế yếu kém, đặc biệt chỉ rõ những vấn đề đặt ra cần phải tăng cƣờng QLNN về XKLĐ trong tình hình mới. Cuối cùng, tác giả đề xuất phƣơng hƣớng và hệ thống giải pháp nhằm tăng cƣờng QLNN về XKLĐ trên địa bàn tỉnh Bình Định trong tình hình mới và dự kiến về tiến độ, phân công tổ chức thực hiện Đề án. Phƣơng pháp nghiên cứu của đề án - Phương pháp luận: Đề án sử dụng phƣơng pháp luận của chủ nghĩa 4 duy vật biện chứng, duy vật lịch sử. Các quan điểm, chủ trƣơng của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nƣớc về XKLĐ.
Kế thừa một cách có chọn lọc các công trình khoa học nghiên cứu về vấn đề này. - Phương pháp nghiên cứu: Đề án sử dụng các phƣơng pháp nghiên cứu chủ yếu sau: Phương pháp phân tích: Đƣợc sử dụng để phân tích tài liệu sơ cấp và thứ cấp. Tài liệu sơ cấp bao gồm các quan điểm, đƣờng lối, chủ trƣơng của Đảng; các văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nƣớc có liên quan; các số liệu thống kê chính thức của cơ quan có thẩm quyền. Tài liệu thứ cấp bao gồm các công trình khoa học, đề tài, luận văn, luận án, đề án… đã đƣợc công bố.
Phƣơng pháp này đƣợc dùng chủ yếu ở chƣơng 1 và chƣơng 2. Phương pháp tổng hợp: Đƣợc sử dụng để hệ thống hóa, tổng hợp các số liệu có từ hoạt động phân tích tài liệu. Việc tổng hợp nhằm mục đích đƣa ra những đánh giá, đề xuất của chính tác giả Đề án. Phƣơng pháp tổng hợp đƣợc sử dụng ở chƣơng 2, chƣơng 3.
Phương pháp thống kê: Đƣợc sử dụng để hệ thống hóa, thống kê các số liệu thu thập đƣợc qua các nguồn tài liệu khác nhau, trên cơ sở đó phân tích thực trạng QLNN về XKLĐ trên địa bàn tỉnh Bình Định giai đoạn 2020 - 2023. Trong Đề án, phƣơng pháp này đƣợc tác giả sử dụng chủ yếu trong chƣơng 2. Phương pháp so sánh: Đƣợc sử dụng tại chƣơng 2 của Đề án nhằm mục đích so sánh, đánh giá kết quả, hiệu quả XKLĐ của tỉnh với cả nƣớc; QLNN về XKLĐ trên địa bàn tỉnh Bình Định với kế hoạch đề ra. Phương pháp dự báo: Đƣợc sử dụng để đánh giá tình hình thực tế trong nƣớc, quốc tế và những biến đổi của địa phƣơng để đƣa ra những dự báo và đề xuất phƣơng hƣớng, giải pháp tăng cƣờng QLNN về XKLĐ trên địa bàn tỉnh Bình Định trong thời gian tới.
PHẦN NỘI DUNG CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN TĂNG CƢỜNG QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG ĐỐI VỚI CẤP TỈNH TRONG TÌNH HÌNH MỚI 1. Cơ sở lý luận tăng cƣờng quản lý nhà nƣớc về xuất khẩu lao động trong tình hình mới 1. Khái niệm, đặc điểm và vai trò xuất khẩu lao động 1.
Khái niệm và các hình thức xuất khẩu lao động a. Khái niệm xuất khẩu lao động - Lao động: Là hoạt động có mục đích, có ý thức của con ngƣời nhằm cải biên các vật thể tự nhiên phù hợp với nhu cầu của con ngƣời. Thực chất là sự vận dụng sức lao động trong qua trình tạo ra của cải vật chất cho xã hội, lao động cũng chính là quá trình kết hợp của sức lao động và tƣ liệu sản xuất để sản xuất ra sản phẩm phục vụ nhu cầu con ngƣời.[5] - Sức lao động: Theo C.Mác, “Sức lao động, đó là toàn bộ các thể lực và trí lực ở trong thân thể một con ngƣời, trong nhân cách sinh động của con ngƣời, thể lực và trí lực mà con ngƣời phải làm cho hoạt động để sản xuất ra những vật có ích”.[5] - Xuất khẩu lao động: Cho đến nay, chƣa có một định nghĩa thống nhất nào về XKLĐ. Tuy nhiên, chúng ta có thể tiếp cận khái niệm này thông qua định nghĩa của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) nhƣ sau: Xuất khẩu lao động là hoạt động kinh tế của một quốc gia thực hiện việc cung ứng lao động cho một quốc gia trên cơ sở những hiệp định hoặc hợp đồng có tính chất hợp pháp quy định đƣợc sự thống nhất giữa các quốc gia đƣa và nhận ngƣời lao động.
Ở nƣớc ta, theo pháp luật hiện hành chƣa có quy định cụ thể về khái niệm 6 “xuất khẩu lao động”, nhƣng theo quy định tại Khoản 1 Điều 3 Luật Ngƣời lao động Việt Nam đi làm việc ở nƣớc ngoài theo hợp đồng 2020 có giải thích về ngƣời lao động Việt Nam đi làm việc ở nƣớc ngoài theo hợp đồng nhƣ sau: “Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng là công dân Việt Nam từ đủ 18 tuổi trở lên cư trú tại Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo quy định của Luật này”.