Chương 1: Cơ sở lý luận về công tác quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài; Chương 2: Thực trạng công tác quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại địa bàn KKT Đình Vũ – Cát Hải giai đoạn 2013-2017; Chương 3: Biện pháp tăng cường công tác quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại địa bàn KKT Đình Vũ – Cát Hải giai đoạn 2018-2022. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ TNDN CÓ VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI 1. Tổng quan về doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 1. Khái niệm Xuất phát từ nhiều khía cạnh, quan điểm khác nhau trên thế giới đã có nhiều khái niệm về doanh nghiệp FDI.
Theo các tổ chức kinh tế quốc tế: Doanh nghiệp FDI là doanh nghiệp có tư cách pháp nhân hoặc không có tư cách pháp nhân, trong đó nhà đầu tư nước ngoài sở hữu từ 10% trở lên số cổ phần thường hay quyền bỏ phiếu (đối với doanh nghiệp có tư cách pháp nhân) hoặc tương đương (đối với doanh nghiệp không có tư cách pháp nhân). Tỉ lệ % trên được sử dụng để xác định 3 loại hình doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài: lớn hơn 50% đối với công ty con (subsidiaries); trong khoảng 10- 50% đối với các công ty liên kết (associates); và các chi nhánh mang trách nhiệm vô hạn. Quan niệm này cho rằng, khái niệm doanh nghiệp có vốn ĐTNN là một khái niệm có phạm vi rộng hơn khái niệm doanh nghiệp có sự kiểm soát của nước ngoài (foreign controlled corporations). Theo [16], tại Việt Nam khái niệm doanh nghiệp FDI xuất hiện đầu tiên tại Luật Đầu tư nước ngoài năm 1996, theo đó doanh nghiệp FDI “bao gồm doanh nghiệp liên doanh và doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài.
Doanh nghiệp liên doanh là doanh nghiệp do hai bên hoặc nhiều bên hợp tác thành lập tại Việt Nam trên cơ sở hợp đồng liên doanh hoặc hiệp định ký giữa Chính phủ Việt Nam và chính phủ nước ngoài và phần góp vốn của bên nước ngoài trong doanh nghiệp liên doanh không được thấp hơn 30% tổng số vốn”. Theo Luật Đầu tư [6] thì doanh nghiệp FDI bao gồm doanh nghiệp do nhà đầu tư nước ngoài thành lập để thực hiện hoạt động đầu tư tại Việt Nam; doanh nghiệp Việt Nam do NĐTNN mua cổ phần, sáp nhập, mua lại. NĐTNN là tổ chức, cá nhân nước ngoài bỏ vốn để thực hiện hoạt động đầu tư tại Việt Nam. Doanh nghiệp được áp dụng điều kiện đầu tư trong nước khi 6 các nhà đầu tư Việt Nam sở hữu từ 51% vốn điều lệ của doanh nghiệp trở lên… 1.
Đặc điểm của FDI Đặc điểm chung về hình thức: Đầu tư nước ngoài bao gồm 3 hình thức chủ yếu là hợp đồng hợp tác kinh doanh, doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, hoạt động trên cơ sở giấy phép do cơ quan có thẩm quyền cấp có tư cách pháp nhân hoạt động theo nội dung, nhiệm vụ được quy định trong giấy phép đầu tư, điều kiện liên doanh, hợp đồng liên doanh… Các chủ đầu tư nước ngoài phải đóng góp một tỷ lệ vốn tối thiểu trong vốn pháp định hoặc vốn điều lệ tùy theo quy định của luật pháp từng nước để dành quyền kiểm soát hoặc tham gia kiểm soát doanh nghiệp nhận đầu tư. Tỷ lệ đóng góp của các bên trong vốn điều lệ hoặc vốn pháp định sẽ quy định quyền và nghĩa vụ của mỗi bên, đồng thời lợi nhuận và rủi ro cũng được phân chia dựa vào tỷ lệ này. [5], [15] Đặc điểm về tìm kiếm lợi nhuận: FDI chủ yếu là đầu tư tư nhân với mục đích hàng đầu là tìm kiếm lợi nhuận các nước nhận đầu tư. Thu nhập mà chủ đầu tư thu được phụ thuộc vào kết quả kinh doanh của DN mà họ bỏ vốn đầu tư, nó mang tính chất thu nhập kinh doanh.
Chủ đầu tư tự quyết định đầu tư, quyết định sản xuất kinh doanh và tự chịu trách nhiệm về lỗ lãi. Nhà đầu tư nước ngoài được quyền tự lựa chọn lĩnh vực đầu tư, quy mô đầu tư cũng như công nghệ cho mình, do đó tự đưa ra những quyết định có lợi nhất cho họ. FDI thường kèm theo chuyển giao công nghệ cho các nước tiếp nhận đầu tư. Thông qua hoạt động FDI, nước chủ nhà có thể tiếp cận được công nghệ, kỹ thuật tiên tiến, học hỏi kinh nghiệm quản lý.
Đặc điểm về chế độ tài chính kế toán: Các công ty có vốn đầu tư nước ngoài thường sử dụng một hệ thống tài chính kế toán riêng theo nước đầu tư. Tuy nhiên, dù doanh nghiệp được phép sử dụng chế độ kế toán nào thì việc tính toán các khoản chi phí và xác định các căn cứ để tính các loại thuế phải tuân thủ các quy định về thuế của Việt Nam. Trường hợp áp dụng chế độ kế 7 toán khác phải được Bộ Tài chính chấp nhận. Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài phải gửi báo cáo tài chính hàng năm đến Cơ quan cấp Giấy phép đầu tư, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính và Tổng cục Thống kê trong vòng 03 tháng kể từ ngày kết thúc năm tài chính của doanh nghiệp.
Báo cáo tài chính hàng năm được kiểm toán bởi một công ty kiểm toán độc lập được phép hoạt động tại Việt Nam theo quy định của pháp luật về kiểm toán trước khi gửi tới các cơ quan trên. Công ty kiểm toán phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính độc lập, khách quan, trung thực của kết quả kiểm toán. Báo cáo tài chính của doanh nghiệp có vốn ĐTNN, Bên hợp doanh nước ngoài đã được kiểm toán có thể được sử dụng làm cơ sở để xác định và quyết toán các nghĩa vụ thuế và các nghĩa vụ tài chính khác đối với Nhà nước Việt Nam. Các hình thức của FDI Đầu tư nước ngoài là những phương thức đầu tư vốn, tài sản ở nước ngoài để tiến hành sản xuất, kinh doanh, dịch vụ với mục đích tìm kiếm lợi nhuận và những mục tiêu kinh tế - xã hội nhất định.
Dưới góc độ tài chính quốc tế thì đó là sự di chuyển một luồng vốn từ quốc gia này sang quốc gia khác để kinh doanh với mục đích tìm kiếm lợi nhuận cao. Căn cứ vào tính chất sử dụng vốn, đầu tư nước ngoài gồm hai hình thức: - Đầu tư gián tiếp: là hình thức chủ đầu tư nước ngoài góp một phần vốn dưới hình thức đầu tư chứng khoán hoặc cho vay để thu lợi nhuận và không trực tiếp tham gia điều hành đối tượng mà họ bỏ vốn. - Đầu tư trực tiếp: là hình thức chủ đầu tư nước ngoài đầu tư toàn bộ hay một phần đủ lớn vốn vào các dự án nhằm giành quyền điều hành và trực tiếp điều hành đối tượng mà họ bỏ vốn. Trong những năm gần đây, hình thức này chiếm vị trí rất quan trọng trong đầu tư nước ngoài.
Theo Nghị định số 24/2000/NĐ-CP ngày 31/7/2000 quy định chi tiết thi hành Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam thì FDI gồm ba hình thức: 8 - Hợp đồng hợp tác kinh doanh: là văn bản ký kết giữa hai bên hoặc nhiều bên để tiến hành đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam, trong đó quy định trách nhiệm và phân chia kết quả kinh doanh cho mỗi bên mà không thành lập pháp nhân mới, các doanh nghiệp có vốn ĐTNN được hợp tác với tổ chức, cá nhân nước ngoài để thực hiện hợp đồng hợp tác kinh doanh. - Doanh nghiệp liên doanh: là doanh nghiệp được thành lập tại Việt Nam trên cơ sở Hợp đồng liên doanh ký giữa hai bên hoặc nhiều bên để tiến hành đầu tư, kinh doanh tại Việt Nam. - Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài: là doanh nghiệp thuộc sở hữu của Nhà nước đầu tư nước ngoài do nhà đầu tư nước ngoài thành lập tại Việt Nam tự quản lý và tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh. Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài được thành lập theo hình thức Công ty trách nhiệm hữu hạn, có tư cách pháp nhân theo pháp luật Việt Nam, được thành lập và hoạt động kể từ ngày được cấp giấy phép đầu tư.
Vai trò của FDI * Chuyển giao và phát triển công nghệ: FDI được coi là nguồn quan trọng để phát triển khả năng công nghệ của nước tiếp nhận đầu tư. Vai trò này được thể hiện qua hai khía cạnh chính là chuyển giao công nghệ sẵn có từ bên ngoài vào và phát triển khả năng công nghệ của các cơ sở nghiên cứu ứng dụng của nước chủ nhà. Đây là những mục tiêu quan trọng được nước tiếp nhận đầu tư mong đợi từ các nhà đầu tư nước ngoài. [15] * Thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế: FDI có tác động đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá.
Dưới tác động của quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế tại các nước phát triển, một số ngành công nghiệp sử dụng vốn FDI vào làm cho công nghiệp tại địa phương tiếp nhận có khả năng phát triển nhanh chóng vượt trội so với các ngành nông nghiệp và dịch vụ, từ đó nhanh chóng nâng cao tỷ trọng của công nghiệp trong GDP. Sự phát triển 9 của công nghiệp tất yếu kéo theo sự phát triển của các ngành dịch vụ, do đó nếu như ban đầu cơ cấu kinh tế của địa phương tiếp nhận FDI chuyển dịch theo hướng tăng nhanh tỷ trọng công nghiệp, thì tới trình độ nhất định sẽ kích thích tăng trưởng mạnh mẽ hơn của các ngành dịch vụ, đặc biệt là các dịch vụ gắn với hoạt động sản xuất kinh doanh. [15] * Phát triển nguồn nhân lực và tạo việc làm: Nguồn nhân lực có ảnh hưởng trực tiếp tới các hoạt động sản xuất, các vấn đề xã hội và mức độ tiêu dùng của dân cư. Đây là các yếu tố có ảnh hưởng rất lớn đến tốc độ tăng trưởng của đất nước.
FDI ảnh hưởng trực tiếp đến cơ hội tạo ra công việc làm thông qua việc cung cấp việc làm trong các hãng có vốn đầu tư nước ngoài. FDI còn tạo ra những cơ hội việc làm trong những tổ chức khác khi các nhà đầu tư nước ngoài mua hàng hóa dịch vụ từ các nhà sản xuất trong nước, hoặc thuê họ thông qua các hợp đồng gia công chế biến. FDI nâng cao năng lực quản lý của nước chủ nhà theo nhiều hình thức như các khóa học chính quy, không chính quy, và học thông qua làm.