phần mở đầu và kết luận, đề tài đƣợc kết cấu gồm ba chƣơng: Chƣơng 1: Lý luận cơ bản về thuế và kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp. Chƣơng 2: Thực trạng công tác kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp tại Chi cục Thuế huyện Nông Cống. Chƣơng 3: Giải pháp tăng cƣờng công tác kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp tại Chi cục Thuế huyện Nông Cống. 6 CHƢƠNG 1 LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ THUẾ VÀ KIỂM TRA THUẾ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP 1.
Một số vấn đề về thuế 1. Khái niệm về thuế Một định nghĩa về thuế tƣơng đối hoàn chỉnh đƣợc nêu lên trong cuốn “Kinh tế học” của hai nhà kinh tế Mỹ Makkollhell và Bruy nhƣ sau: “Thuế là một khoản chuyển giao bắt buộc bằng tiền hoặc là chuyển giao bằng hàng hóa, dịch vụ của các công ty và các hộ gia đình cho Chính phủ, mà trong sự trao đổi đó họ không nhận đƣợc một cách trực tiếp hàng hóa hoặc dịch vụ nào cả, khoản nộp đó không phải là tiền phạt mà t a án tuyên phạt do hành vi vi phạm pháp luật”. Theo nhà kinh tế học Gaston Jeze, trong cuốn “Tài chính công” đ đƣa ra một định nghĩa tƣơng đối cổ điển nhất: “Thuế là một khoản trích nộp bằng tiền, có tính chất xác định, không hoàn trả trực tiếp do các công dân đóng góp cho Nhà nƣớc thông qua con đƣờng quyền lực nhằm bù đắp những chi tiêu của Nhà nƣớc”. Trên góc độ phân phối thu nhập, ngƣời ta định nghĩa: Thuế là hình thức phân phối và phân phối lại tổng sản phẩm x hội và thu nhập quốc dân nhằm hình thành các quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nƣớc để đáp ứng các nhu cầu chi tiêu cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nƣớc.
Trên góc độ ngƣời nộp thuế, thuế đƣợc coi là khoản đóng góp bắt buộc mà mỗi tổ chức, cá nhân phải có nghĩa vụ đóng góp cho Nhà nƣớc theo Luật định để đáp ứng nhu cầu chi tiêu cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nƣớc. Trên góc độ kinh tế học, thuế đƣợc xem x t nhƣ là một biện pháp đặc biệt, theo đó Nhà nƣớc sử dụng quyền lực của mình để chuyển một phần nguồn lực t khu vực tƣ sang khu vực công nhằm thực hiện các chức năng kinh tế-x hội của Nhà nƣớc. 7 Ở nƣớc ta đến nay cũng chƣa có một định nghĩa thống nhất về thuế. Theo t điển tiếng Việt - Trung tâm t điển học (1998) “Thuế là khoản tiền hay hiện vật mà ngƣời dân hoặc các tổ chức kinh doanh, tùy theo tài sản, thu nhập, nghề nghiệp.
buộc phải nộp cho Nhà nƣớc theo mức qui định”. Mặc dù c n nhiều các định nghĩa khác nhau, song nếu khái quát chung để tìm các hạt nhân hợp lý của t ng quan điểm, có thể rút ra một số đặc trƣng chung của thuế sau đây: - Thứ nhất, nội dung kinh tế của thuế đƣợc đặc trƣng bởi các mối quan hệ tiền tệ phát sinh giữa Nhà nƣớc với các pháp nhân và các thể nhân trong x hội. - Thứ hai, những mối quan hệ dƣới dạng tiền tệ này đƣợc nảy sinh một cách khách quan và có ý nghĩa x hội đặc biệt - việc chuyển giao thu nhập có tính chất bắt buộc theo mệnh lệnh của Nhà nƣớc. - Thứ ba, x t theo khía cạnh luật pháp, thuế là một khoản nộp cho Nhà nƣớc đƣợc pháp luật qui định theo mức thu và thời hạn nhất định.
T những nội dung trên, có thể nêu lên khái niệm tổng quát về thuế nhƣ sau: Thuế là một khoản nộp ngân sách nhà nƣớc bắt buộc của tổ chức, hộ gia đình, hộ kinh doanh, cá nhân theo quy định của các luật thuế. Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc t các thể nhân và pháp nhân cho Nhà nƣớc theo mức độ và thời hạn đƣợc pháp luật qui định nhằm sử dụng cho mục đích công cộng. Thuế là một khoản trích nộp bằng tiền, có tính chất xác định, không hoàn trả trực tiếp do các công dân đóng góp cho nhà nƣớc thông qua con đƣờng quyền lực nhằm bù đắp những chi tiêu của Nhà nƣớc. Thuế là khoản nộp mang tính nghĩa vụ bắt buộc của công dân đối với Nhà nƣớc (có thể nói thuế là tiền mà mỗi công dân đóng vào đó để cùng nhau xây dựng đất nƣớc).
Tùy vào mỗi quốc gia mà các quy định về thuế sẽ khác nhau. * Đặc điểm của Thuế: - Tính bắt buộc: Thuế là khoản thu mang tính bắt buộc: Vì thuế là nguồn thu chính của nhà nƣớc và nhà nƣớc dùng số tiền đó cho việc cung cấp 8 cho các lợi ích cho quốc gia nhƣ các cơ sở vật chất, quốc phòng, pháp luật, y tế, môi trƣờng,…để phục vụ cho ngƣời dân. Tính bắt buộc để đảm bảo rằng mọi công dân phải đóng thuế. Tính bắt buộc xuất phát t việc nhà nƣớc là ngƣời cung ứng phần lớn hàng hóa công cộng cho xã hội.
Để đảm bảo nhu cầu chi tiêu công cộng ấy, nhà nƣớc phải sử dụng quyền lực của mình để nhân dân phải nộp. Đây là nghĩa vụ của mỗi công dân và đ đƣợc ghi nhận trong hiến pháp của mỗi quốc gia. - Tính chất không hoàn trả trực tiếp: Nghĩa là công dân sẽ không đƣợc nhà nƣớc trả trực tiếp lại số tiền mà mình đ đóng, nhƣng công dân sẽ đƣợc nhận lại gián tiếp qua việc đƣợc hƣởng các dịch vụ công cộng mà nhà nƣớc sử dụng tiền thuế để tạo ra. Sự không hoàn hảo trả trực tiếp đƣợc thể hiện kể cả trƣớc và sau thu thuế.
Các cá nhân, tổ chức đ nộp thuế cho nhà nƣớc cũng không có quyền đ i h i nhà nƣớc phải cung cấp trực tiếp cho họ một lƣợng hàng hóa hay dịch vụ cụ thể. Nhƣng công dân có quyền nêu ý kiến của mình nếu số tiền thuế đóng quá cao mà trong khi đó mà nhận lại t các dịch vụ quá thấp, nhân dân cũng có thể kiểm tra việc chi tiêu của ngân sách nhà nƣớc thông qua đại biểu của họ ở các cơ quan đại diện. - Thuế là một công cụ tài chính có tính pháp lý cao: Đƣợc quyết định bởi quyền lực chính trị của nhà nƣớc và quyền lực ấy đƣợc thể hiện bằng pháp luật. Các luật thuế sẽ do các cơ quan quyền lực nhà nƣớc ban hành tránh việc thu thuế tùy tiện.
Vì chỉ có Quốc hội mới có quyền quy định, sửa đổi, bãi b các khoản thuế. Khái niệm về quản lý thuế Thuật ngữ quản lý có thể hiểu theo nhiều cách khác nhau tùy thuộc vào góc độ nghiên cứu của t ng ngành khoa học. Theo nghĩa chung nhất: Quản lý là thuật ngữ chỉ hoạt động của con ngƣời nhằm sắp xếp, tổ chức, chỉ huy, điều hành hƣớng dẫn, kiểm tra các quá trình x hội và hoạt động của con ngƣời để hƣớng chúng phát triển phù hợp 9 với quy luật x hội, đạt đƣợc mục tiêu xác định theo ý chí của nhà quản lý với chi phí thấp nhất. Quản lý thuế là một dạng của quản lý x hội.
Quản lý thuế ra đời nhằm đáp ứng yêu cầu của Nhà nƣớc và gắn chặt với quyền lực của Nhà nƣớc. Để có đủ nguồn lực tài chính duy trì bộ máy quyền lực của mình, Nhà nƣớc luôn tìm ra phƣơng thức quản lý có hiệu quả nhất để đạt đƣợc mục tiêu và phát huy tối đa vai tr của thuế trong đời sống thực tiễn có liên quan đến thuế bao gồm hoạt động tổ chức, điều hành quá trình thu nộp thuế vào NSNN. Quản lý thuế là tất cả hoạt động của Nhà nƣớc; xây dựng chiến lƣợc phát triển hệ thống thuế; ban hành pháp luật thuế và kiểm tra, giám sát việc chấp hành pháp luật thuế. Theo đó, mục tiêu của công tác quản lý thuế là nhằm quản lý nguồn thu chủ yếu của NSNN bằng pháp luật thông qua việc quy định rõ quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của NNT, cơ quan quản lý thuế và của các tổ chức, cá nhân có liên quan trong việc quản lý thuế; đảm bảo tính công bằng, hiệu quả trong quản lý thu thuế, tạo điều kiện thuận lợi cho NNT, nộp đúng, đủ, kịp thời tiền thuế vào NSNN.
Công tác kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp 1. Khái niệm về kiểm tra thuế Kiểm tra - tiếng Anh “control” có nghĩa là kiểm tra, thẩm định, xác minh. Theo t điển tiếng việt thì kiểm tra là “xem x t tình hình thực tế để đánh giá, nhận x t”. Kiểm tra có thể hiểu là sự xem x t thực tế để đƣa ra đánh giá, nhận x t của bất kỳ một cá nhân nào trong x hội trong bất cứ một hoạt động nào, là xem x t những diễn biến ra có đúng với quy tắc đ xác lập, các tiêu chuẩn và các mệnh lệnh về quản lý đ ban hành ra hay không.
Kiểm tra thuế là hoạt động giám sát của cơ quan thuế đối với các hoạt động, giao dịch liên quan đến phát sinh nghĩa vụ thuế và tình hình thực hiện 10 thủ tục hành chính thuế, chấp hành nghĩa vụ nộp thuế của ngƣời nộp thuế, nhằm bảo đảm pháp luật thuế đƣợc thực thi nghiêm chỉnh trong đời sống kinh tế - x hội. Mục tiêu và sự cần thiết của kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp 1. Mục tiêu của kiểm tra thuế - Kiểm tra thuế nhằm bảo vệ lợi ích của Nhà nƣớc, quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức và cá nhân khi thực hiện chính sách pháp luật về thuế. - Kiểm tra thuế nhằm ph ng ng a, phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về thuế.
- Kiểm tra thuế nhằm thực hiện cải cách hành chính trong lĩnh vực thuế, phát hiện những hạn chế chƣa đồng bộ về cơ chế quản lý và chính sách thuế để kiến nghị cơ quan có thẩm quyền kịp thời sửa đổi bổ sung. - Kiểm tra thuế nhằm động viên, khen thƣởng để phát huy nhân tố tích cực, đồng thời tăng cƣờng chấn áp và xử lý nghiêm những hành vi tiêu cực trong việc thực hiện pháp luật thuế. Sự cần thiết của kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp Kiểm tra thuế có vai tr hết sức quan trọng và hết sức cần thiết trong công tác quản lý thuế, thể hiện trên các mặt sau: - Kiểm tra thuế góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nƣớc trong lĩnh vực thuế. Kiểm tra thuế đƣợc sử dụng nhƣ một công cụ để đảm bảo pháp luật thuế đƣợc thực thi nghiêm túc, quyền và lợi ích Nhà nƣớc, của NNT đƣợc bảo đảm.
Kiểm tra thuế nhằm kiểm soát việc chấp hành pháp luật thuế của NNT, giúp ph ng ng a, phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về thuế.