phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, luận văn gồm 03 chƣơng: 4 Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về kiểm soát thuế thu nhập doanh nghiệp của cơ quan thuế. Chƣơng 2: Thực trạng công tác kiểm soát thuế thu nhập doanh nghiệp tại Chi cục Thuế quận Hải Châu, TP Đà Nẵng. Chƣơng 3: Các giải pháp tăng cƣờng công tác kiểm soát thuế thu nhập doanh nghiệp tại Chi cục Thuế quận Hải Châu, TP Đà Nẵng. Tổng quan tài liệu nghiên ứu Từ khi thực hiện Luật thuế TNDN đến nay, đã có một số đề tài thạc sỹ nghiên cứu về kiểm soát thuế TNDN tại các Cục thuế địa phƣơng nhằm nhận diện những bất cập về công tác kiểm soát thuế và đề xuất các giải pháp để công tác kiểm soát thuế hữu hiệu hơn, tránh thất thu cho ngân sách.
Tác giả Trần Văn Ninh (2012), Luận văn thạc sỹ “Tăng cƣờng kiểm soát thuế TNDN tại Chi cục Thuế quận Cẩm Lệ - Thành phố Đà Nẵng” [14]. Luận văn đã trình bày thực trạng công tác kiểm soát thuế TNDN tại Chi cục Thuế quận Cẩm Lệ; nhận diện đƣợc những hạn chế từ tổ chức bộ máy kiểm soát và công tác kiểm soát thuế từ đó đƣa ra các giải pháp tăng cƣờng kiểm soát thuế ở cơ quan thuế. Tuy nhiên, tác giả chƣa đề cập đến nội dung kiểm soát xử lý vi phạm về thuế TNDN trong quy trình nội dung kiểm soát thuế TNDN và thực trạng kiểm soát nội bộ tại Chi cục Thuế quận Cẩm Lệ. Tác giả Trần Tiến Lập (2013), “Tăng cƣờng kiểm soát thuế TNDN tại Cục thuế tỉnh Quảng Nam” [12].
Bên cạnh việc hệ thống hóa những nghiên cứu về kiểm soát thuế TNDN, tác giả đã trình bày thực trạng công tác kiểm soát thuế TNDN tại Cục thuế tỉnh Quảng Nam, nhận diện đƣợc những bất cập về công tác kiểm soát thuế. Từ đó, tác giả đề xuất các giải pháp nâng cao chất lƣợng quản lý và kiểm soát thuế. Tuy nhiên luận văn chỉ đề cập những nguyên tắc chung gắn với đặc điểm tổ chức tại Cục thuế tỉnh Quảng Nam. 5 Nguyễn Thị Thu Lƣơng (2014), Luận văn thạc sỹ “Kiểm soát thuế TNDN đối với các DN kinh doanh khách sạn do Chi cục Thuế quận Sơn Trà thực hiện” [13].
Luận văn đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về kiểm soát thuế TNDN, đánh giá thực trạng và nêu lên những hạn chế trong công tác kiểm soát thuế TNDN đối với các DN kinh doanh khách sạn. Vận dụng tại Chi cục Thuế quận Sơn Trà, từ đó đề xuất các giải pháp kiểm soát thuế TNDN. Tuy nhiên, các giải pháp đƣợc đƣa ra chƣa cụ thể đối với doanh nghiệp kinh doanh khách sạn. Tác giả Lê Trung Dũng (2015), Luận văn thạc sỹ “Tăng cƣờng kiểm soát thuế TNDN tại Cục thuế tỉnh Quảng Ngãi” [11] đã góp phần làm rõ cơ sở lý luận cũng nhƣ thực tiễn áp dụng của việc quản lý, kiểm soát thuế TNDN tại tỉnh Quảng Ngãi.
Qua đó nhận diện ra những ƣu điểm và bất cập trong công tác kiểm soát thuế TNDN tại Cục thuế Quảng Ngãi ở các quy trình: đăng ký, kê khai thuế, hỗ trợ NNT; thanh tra, kiểm tra thuế tại DN; kiểm soát nợ thuế và kiểm tra nội bộ giám sát việc tuân thủ. Ngoài ra tác giả cũng sử dụng thêm phƣơng pháp khảo sát cán bộ thuế để phục vụ cho việc đánh giá độ tin cậy đối với hồ sơ khai thuế, chấp hành pháp luật về thuế và các hành vi vi phạm về thuế. Từ đó, đƣa ra các giải pháp gắn với thực tế nhằm tăng cƣờng kiểm soát thuế TNDN tại Cục thuế Quãng Ngãi. Tuy nhiên, tại phần giải pháp tác giả vẫn chƣa đƣa ra đƣợc căn cứ để đề xuất các giải pháp, những hạn chế của công tác kiểm soát thuế TNDN nói chung.
Tác giả Nguyễn Bá Phú (2009), Tạp chí kiểm toán số 9-2009; Trang 21- 23. Bài báo “Tăng cƣờng phân tích báo cáo tài chính khi thực hiện cơ chế tự khai tự nộp thuế” [15]. Nội dung bài báo đã nêu lên đƣợc tầm quan trọng của việc phân tích báo cáo tài chính của DN đối với cơ quan thuế các cấp khi áp dụng cơ chế quản lý thuế tự khai, tự nộp thuế thông qua đánh giá, tổng hợp chính xác tình hình kết quả hoạt động kinh doanh của DN nhằm đảm bảo cho 6 việc quản lý thuế chính xác. Bài báo cũng nêu ra một số vấn đề cần chú trọng khi phân tích báo cáo tài chính DN cho cơ quan thuế nhƣ là: liên kết phân tích tổng hợp số liệu qua các năm, đánh giá xu hƣớng phát triển và tình hình tài chính của DN thông qua hệ số tài trợ, hệ số khả năng thanh toán nhanh, tỷ suất đầu tƣ; so sánh giữa kỳ phân tích và kỳ gốc để nêu nhận xét.
Tuy nhiên tác giả không đề cập đến những hạn chế về trình độ, kỹ năng phân tích báo cáo tài chính của cán bộ thuế thực hiện công tác thanh tra, kiểm tra. Thạc sĩ Đỗ Đình Thu (2007), “Kinh nghiệm của Pháp về kiểm tra, thanh tra thuế và bài học cho Việt Nam” đăng trên tạp chí nghiên cứu Tài chính kế toán, số 05-2007, trang 29-33 [19]. Bài báo làm rõ các hình thức gian lận thuế mới trong điều kiện hội nhập kinh tế và nguyên nhân dẫn đến các hành vi gian lận thuế, tránh thuế của các đối tƣợng nộp thuế tại Pháp. Cùng với những gian lận thuế thƣờng gặp, nghiên cứu đã đƣa ra các biện pháp để ngăn chặn và chống lại các hành vi gian lận thuế trong đó tập trung chủ yếu vào công tác thanh tra thuế tại Pháp.
Từ đó, tác giả rút ra những kinh nghiệm tham khảo cho công tác thanh tra thuế tại Việt Nam: Cơ quan thanh tra thuế phải xây dựng đƣợc hệ thống thông tin đầy đủ về đối tƣợng nộp thuế (ĐTNT); Nâng cao trình độ của cán bộ thanh tra thuế; Nâng cao tính chuyên môn hóa của thanh tra thuế, thực hiện quản lý thuế theo rủi ro; Hoàn thiện luật pháp và có các chế tài nghiêm khắc áp dụng đối với các hành vi gian lận thuế. Tác giả Bùi Thái Quang (2013), “Phƣơng pháp quản lý rủi ro, đảm bảo nguồn thu ngân sách bền vững”, Tạp chí tài chính, số 11, Trang 49 [16]. Tác giả đã sƣu tầm đƣợc kinh nghiệm phong phú của các cơ quan quản lý thuế trên thế giới (Hoa Kỳ, Châu Âu) về áp dụng quản lý rủi ro trong lĩnh vực thuế nhằm nâng cao quản lý tuân thủ để giảm thiểu những trƣờng hợp vi phạm về thuế. Tác giả cũng chỉ ra một số bất cập trong công tác phối hợp giữa Tổng cục Thuế và Tổng cục Hải quan thời gian qua chƣa chặt chẽ là một trong 7 những nguyên nhân làm giảm hiệu quả quản lý rủi ro đối tƣợng nộp thuế.
Do là một bài báo khoa học, bị giới hạn về hàm lƣợng nghiên cứu nên tác giả mới chỉ cho ngƣời đọc biết những nét sơ lƣợc về tầm quan trọng của quản lý rủi ro trong chống thất thu NSNN. Bài viết chƣa có đƣợc các biện pháp làm thế nào để quản lý tốt rủi ro trong thanh tra thuế nhằm tăng thu ngân sách bền vững. Mặt khác, các kinh nghiệm chia sẻ từ các nƣớc lại chƣa nhiều nên chƣa có những trải nghiệm, phân tích những ƣu điểm từ việc vận dụng kinh nghiệm quản lý rủi ro tiên tiến trên thế giới để áp dụng vào Việt Nam. Bộ Tài Chính (2014), “Tài liệu bồi dƣỡng nghiệp vụ ngạch kiểm tra viên thuế”, Nhà xuất bản Tài chính [2].
Nội dung sách nghiên cứu, hệ thống hóa những kiến thức cơ bản về quản lý hành chính nhà nƣớc, về chính sách thuế và quản lý thuế, giới thiệu đến ngƣời đọc những khái niệm, nội dung của từng loại thuế trong đó có thuế TNDN. Các công trình nghiên cứu trên đã đi sâu phân tích, đánh giá công tác kiểm soát thuế TNDN, nghiên cứu những biện pháp và định hƣớng hoàn thiện công tác kiểm soát thuế nói chung và kiểm soát thuế TNDN nói riêng. Trong đó có một số bài viết chuyên đề dựa vào quá trình thanh tra thực tế, tiếp cận và đƣa ra giải pháp nâng cao hiệu quả kiểm soát thuế đối với DN dựa vào các đặc điểm của DN nhƣ: chống thất thu thuế đối với các ngành nghề sản xuất kinh doanh đặc thù (nhƣ kinh doanh dịch vụ du lịch, khách sạn, DN có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài). Kết hợp những tài liệu thu thập ở trên cùng với hiểu biết của tác giả trong vấn đề kiểm soát thuế TNDN của các DN do Chi cục Thuế quận Hải Châu quản lý, tác giả quyết định thực hiện đề tài: “Tăng cường kiểm soát thuế thu nhập doanh nghiệp tại Chi cục Thuế quận Hải Châu, Thành phố Đà Nẵng” làm luận văn tốt nghiệp.
8 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SOÁT THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP CỦA CƠ QUAN THUẾ 1. TỔNG QUAN VỀ THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP 1. Khái niệm và ặ iểm ủa thu thu nhập doanh nghiệp Thuế TNDN là một loại thuế đƣợc nhiều quốc gia trên thế giới áp dụng. Anh và Nhật Bản là những nƣớc đầu tiên áp dụng sắc thuế này từ những năm khoảng giữa và cuối thế kỷ XIX, một số nƣớc khác áp dụng vào khoảng đầu thế kỷ XX nhƣ Pháp, Thụy Sỹ, Liên Xô cũ, Trung Quốc.
Ở Việt Nam, thuế TNDN có xuất xứ từ khoản trích nộp lợi nhuận áp dụng đối với khu vực kinh tế quốc doanh và thuế Lợi tức doanh nghiệp áp dụng đối với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh trong giai đoạn giai đoạn từ 1953 đến trƣớc ngày 1/1/1990. Giai đoạn từ 1/1/1990 đến trƣớc ngày 1/1/1999 thuế lợi tức đƣợc áp dụng thống nhất cho mọi thành phần kinh tế. Năm 1997 Luật thuế TNDN đầu tiên đƣợc ban hành (ngày 10/5/1997) và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1/1/1999. Kể từ khi ban hành đến nay, Luật thuế TNDN đã đƣợc sửa đổi, bổ sung nhiều lần nhằm tháo gỡ kịp thời các vƣớng mắc phát sinh phù hợp với thực tiễn nƣớc ta và thông lệ quốc tế.
Thuế TNDN đƣợc điều chỉnh trong Luật thuế TNDN mới nhất số 71/2014/QH13 ngày 26 tháng 11 năm 2014 của Quốc hội khóa XIII, kỳ họp thứ 8 [17]. Thuế TNDN là một loại thuế trực thu đánh vào thu nhập chịu thuế của cơ sở sản xuất kinh doanh trong kỳ. Tính chất trực thu của loại thuế này đƣợc biểu hiện ở sự đồng nhất giữa đối tƣợng nộp thuế và đối tƣợng chịu thuế. Thuế TNDN chỉ đánh vào phần thu nhập chịu thuế của DN, bởi vậy mức động viên vào NSNN đối với loại thuế này phụ thuộc rất lớn vào hiệu quả kinh doanh của DN.